Friday, October 6, 2017
PBC Hội Ngộ 2012 Nam California Videos
PBC Hội Ngộ 2012 Nam Calofornia 7/7/2012 Phần Tiếp Tân
Video Phần 1
Video Phần 2
Video Phần 3
Video Phần 4
Xa Trường
PBC72 Hội Ngộ tại Phan Thiết
Thursday, October 5, 2017
Một Thời Bên Phố - Cát Biển
Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu
(Thôi Hiệu)
Thế giới đang chuyển mình bước vào một thiên niên kỷ mới. Giữa nhịp sống dồn dập với bao nhiêu phát minh mới của khoa học, bao nhiêu đổi thay kinh tế nhằm cải tiến nếp sống con người, ai đó vẫn còn đang dừng lại ngóng tìm bóng dáng quê hương như lời thơ của Thôi Hiệu mà đã được Vũ Hoàng Chương gửi gấm nỗi tâm sự miên man trong lời kêu ai oán cuối quãng đời người thi sĩ: "Gần xa chiều xuống đâu quê quán? Chớ giục cơn sầu nữa sóng ơi"...
Có những hình ảnh nào đó đã ghi khắc sâu đậm trong tâm tư mà mình không thể nào quên được. Những kỷ niệm thân thương như mảnh lụa nhung êm ả quấn quyện vào tâm khảm, chiếm một chổ dịu dàng yêu dấu nhất của ký ức con người mà ta mang theo cả cuộc đời để thương và để nhớ...
Vào khoảng cuối thập niên 50, một biến cố đáng kể đến với gia đình chúng tôi. Chúng tôi phải dọn khỏi phố vườn bông (được gọi là "bùng binh") Phan Thiết trên đường Lê Văn Duyệt, bỏ lại đằng sau mớ kỷ niệm đáng yêu. Bao nhiêu hình ảnh thân thương với các bạn bè nhỏ bé của tuổi ấu thơ, với các chị và 2 cô em gái chúng tôi tại căn nhà ấy, tức là tiệm may Phan Sinh kế bên nhà hàng Nam Thạnh Lầu (mà mọi người vẫn gọi là "quán Hai Mọi", cách vài căn từ tiệm may Mai Xuân Trượng), bỗng nhiên trở thành quá khứ. Một cái gì hụt hẫng trống vắng xâm chiếm cả tâm hồn ngây thơ khờ dại trong tôi... Thời gian sau, khi tôi có dịp trở lại căn nhà củ lần đầu tiên, tôi thấy mình là một kẽ xa lạ đứng ngỡ ngàng bên lề đường, nhìn thoáng vội vã vào bên trong căn nhà củ như sợ ai bắt gặp. Căn nhà thân yêu đó, bây giờ được mang tên mới là tiệm Huê Lợi với các thùng đinh ốc và vật liệu xây cất trông thật kỳ lạ được bày bán từ trong ra ngoài. Các dấu vết thân yêu các tiếng cười tiếng ca xưa không còn nữa, dầu nắng chiều vàng mềm mại vẫn còn lung linh từ mái hiên khu hàng xóm củ. Hương thơm từ không gian cao như đã ngừng rơi đâu đó...Những ấn tượng thời niên thiếu ấy đã theo dòng đời trôi vào quên lãng từ hơn 40 năm qua. So ra, nó chỉ là một phần gì rất khiêm nhượng, quá tầm thường, thật nhỏ bé, so sánh với những mất mát đau thương nghiệt ngã, những đòn thù mà con người VN đã phải hứng chịu sau 1975. Nhưng đống tro tàn kỷ niệm ấy phải chăng chỉ là lớp khoác che đậy những tâm tư vẫn còn âm ỉ cháy trong lòng kẽ tha hương, chỉ chờ ai đó khơi lại để trôi về, như người xưa ngóng đợi một mình bên bờ sông vắng vì ai đó đã lỗi hẹn...
Vào những tháng ngày thơ ấu trong trí nhớ non kém mà tôi còn có thể hình dung được, cả phố Phan Thiết bình dị vừa chứng kiến nhiều dâu bể đổi thay trong nước. Vua Bảo Đại xuống, Ngô Đình Diệm lên thay, sau một cuộc bầu cử "trưng cầu dân ý". Tân Tổng Thống Ngô Đình Diệm là người từng giữ chức Tuần Vũ Bình Thuận lúc mới tròn 21 tuổi, một chức vụ tương tự như Tỉnh Trưởng sau này. (Sau cuộc đảo chánh năm 1963, giấy khai tử của ông có kê khai chức vụ của ông là "Tuần Vũ Bình Thuận" chứ không phải là "Tổng Thống VNCH"). Đồng bạc mới VN thời đó đó có giá trị đáng kể. Chỉ cần hai cắc bạc chúng tôi có thể mua được cả một rổ ốc ruốc về để chị em chúng tôi "lể" ăn mệt nghỉ. Tôi nhớ lúc chánh phủ mới vừa cho lưu hành tiền mới, tôi cầm đồng bạc mới do má cho, đi mua món trái cây trị giá năm cắc. Bà bán hàng không thối lại năm cắc mà lại bà xé đôi đồng bạc giấy trả cho tôi một nữa vừa được xé ra! Trong hoang mang tôi về kể với các chị và ba má, thì mới hiểu lúc đó tân chính phủ vừa nhậm chức chưa có tiền cắc mới để cho lưu hành.
Dạo ấy MTGPMN vẫn còn trong trứng nước, chưa được Đảng CS Bắc Việt cho chính thức ra đời, nên các tuyến đường xe đò và các chuyến xe lửa đi Sài Gòn hoặc ra Nha Trang chưa bị phá hoại, vẫn còn lưu hành thông suốt. Thành phố hiền hoà quê tôi được hưởng vài năm yên lành trước khi thực sự chứng kiến những thãm cảnh của chiến tranh làm tan đi mất những hi vọng về hoà bình của người dân trong phố. Thời gian ấy tôi được may mắn theo ba tôi mấy chuyến đi Sài Gòn bằng xe lửa. Xe khởi hành rời ga Phan Thiết khoảng chừng sập tối, mình có thể ngủ một giấc cho đến khi xe ghé các trạm khuya thức dậy ăn cháo gà, rồi đến cổng ga Sài Gòn (công trường Quách Thị Trang sau này) với một không khí hấp dẫn thật khác lạ do các tiếng xích lô máy nổ bình bịch, dù lúc trời chỉ vừa tờ mờ rựng sáng. Thành phố Phan Thiết bình dị trong các năm có thể nói là thanh bình ấy thật đáng yêu với các phiên chợ Tết nhộn nhịp, và khắp phố phường dấu vết của hạnh phúc thấp thoáng ló dạng đâu đây. Ba tôi không còn đi lưu diễn với đoàn hát nữa, về lại Phan Thiết lập nghiệp với tiệm may Phan Sinh. Tuy nhiên các diễn viên củ trong đoàn hát như cô Út, chú Tao Ngộ, chú Võ, v.v... vẫn ghé thăm nhà tôi để cùng đờn ca xướng hát các bài bản ưng ý của thời đi lưu diễn. Thỉnh thoảng ba tôi vẫn ngân nga những bài ca xưa, cả những khi ông đang cắt vải thoăn thoắt theo đường phấn kẻ màu xanh với chiếc kéo cắt thật bén và lớn, hoặc lúc chân đang đạp đều nhịp chiếc máy may với đôi tay ông lèo lái các đường vải. Các máy may khác trong nhà chạy đều theo nhịp đạp của các thợ chính, thợ phụ, hoặc các anh còn đang tập sự. Các anh thợ thanh niên thì dạn dĩ hay ca góp vui nối tiếp theo ba tôi, hoặc có người ra câu đố, hoặc kể chuyện vui. Các người giúp việc đôi khi cũng trở thành đề tài cho các thanh niên giỡn phá. Các chị thợ thường chỉ phụ đơm khuy và kết nút, tham gia cuộc vui một cách kín đáo hơn bằng các tiếng cười dòn. Chị Sáu thường bị các anh thợ chiếu cố trêu ghẹo suốt ngày vì chị có nét xinh ở tuổi dậy thì. Sau giờ làm việc, các anh chị vẫn còn tiếp tục kể chuyện vui hoặc đờn ca, có khi còn ngũ lại đêm trong 1 phòng lầu dưới. Mé sau căn nhà, trên lầu trên có một bức tường bằng gạch, được xây hơi kiểu cọ, chừa khuyết một vòng tròn khá lớn như vầng trăng khiến cho người trong nhà có thể nhìn được ra sân thượng ở mé sau. Chị cả của chúng tôi, chị Hoàng Anh, thường leo ngồi vào vòng trăng đó, thả chân đong đưa vừa ca các bài như Ánh trăng trắng ngà, có cây đa to... Dạo ấy chị Anh đã là 1 thiếu nữ cao và thon gầy trong chiếc áo dài trắng. Trong khi chị Hoàng Minh (tức chị Nam) vẫn còn học trường Nữ bậc tiểu học, chị Anh đã vào học trường Phan Bội Châu, được ba má tôi mua cho một chiếc xe đạp mà lúc nào chị cũng giữ bóng loáng. (Lúc sau, theo phong trào Velo Solex, chị cũng có 1 chiếc Velo thay cho xe đạp). Chị theo sát ba tôi từ những dịp đi lưu diễn hay cả những lúc ba đi đá banh bên Sân Vận Động. Các cầu thủ đá banh mặc quần shọt, áo may ô và mang giầy đinh. Có lần trên sân banh, khi chị Anh đang giữ áo quần của ba tôi vừa thay ra, một thanh niên đến nói với chị là "Ba của cô kêu tôi đến nhờ cô đưa quần áo cho ổng thay"... Chị Anh bèn đưa hết quần áo, có cả bóp và tiền bạc. Đến khi ba tôi đá banh xong, trở lại lấy quần áo đi thay, mới biết chị Anh đã bị kẽ lạ gạt lấy hết quần áo giấy tờ. Em Hoàng Yến kế tôi hãy còn bé chưa đi học, và em Thanh Hà chỉ mới chập chững biết đi. Trong các bài ca mà tôi nghe ba tôi ca, có một bài với lời thật ngộ nghĩnh khiến tôi theo hỏi và được ba cho biết là do bác Trúc Viên Trương Gia Kỳ Sanh sáng tác, thời bác còn làm bầu gánh hát - thời thật xa xưa trước khi bác trở thành Dân Biểu. Bài hát này các chị em chúng tôi sau này đều thuộc lòng (và trở thành bài ca chung trong những dịp vui mỗi khi gia đình hội ngộ):
Mau vô trỏng, cúi đầu thưa với ổng
Rằng tôi đợi ngoài cổng
Rồi trở ra mau nói, để cho tôi thăm hỏi
Kẻo chờ lâu cẳng mỏi
Ông quan ấy thân với tôi lắm đấy
Tôi với ổng họ Trình
Trình ấy làm Quan
Còn Trình này thì bán quán giữa rừng "hoang"
Quán với Quan cũng gần
Quan với Quán một vần
Yên ba giang thượng sử nhân sầu
(Thôi Hiệu)
Thế giới đang chuyển mình bước vào một thiên niên kỷ mới. Giữa nhịp sống dồn dập với bao nhiêu phát minh mới của khoa học, bao nhiêu đổi thay kinh tế nhằm cải tiến nếp sống con người, ai đó vẫn còn đang dừng lại ngóng tìm bóng dáng quê hương như lời thơ của Thôi Hiệu mà đã được Vũ Hoàng Chương gửi gấm nỗi tâm sự miên man trong lời kêu ai oán cuối quãng đời người thi sĩ: "Gần xa chiều xuống đâu quê quán? Chớ giục cơn sầu nữa sóng ơi"...
Có những hình ảnh nào đó đã ghi khắc sâu đậm trong tâm tư mà mình không thể nào quên được. Những kỷ niệm thân thương như mảnh lụa nhung êm ả quấn quyện vào tâm khảm, chiếm một chổ dịu dàng yêu dấu nhất của ký ức con người mà ta mang theo cả cuộc đời để thương và để nhớ...
Vào khoảng cuối thập niên 50, một biến cố đáng kể đến với gia đình chúng tôi. Chúng tôi phải dọn khỏi phố vườn bông (được gọi là "bùng binh") Phan Thiết trên đường Lê Văn Duyệt, bỏ lại đằng sau mớ kỷ niệm đáng yêu. Bao nhiêu hình ảnh thân thương với các bạn bè nhỏ bé của tuổi ấu thơ, với các chị và 2 cô em gái chúng tôi tại căn nhà ấy, tức là tiệm may Phan Sinh kế bên nhà hàng Nam Thạnh Lầu (mà mọi người vẫn gọi là "quán Hai Mọi", cách vài căn từ tiệm may Mai Xuân Trượng), bỗng nhiên trở thành quá khứ. Một cái gì hụt hẫng trống vắng xâm chiếm cả tâm hồn ngây thơ khờ dại trong tôi... Thời gian sau, khi tôi có dịp trở lại căn nhà củ lần đầu tiên, tôi thấy mình là một kẽ xa lạ đứng ngỡ ngàng bên lề đường, nhìn thoáng vội vã vào bên trong căn nhà củ như sợ ai bắt gặp. Căn nhà thân yêu đó, bây giờ được mang tên mới là tiệm Huê Lợi với các thùng đinh ốc và vật liệu xây cất trông thật kỳ lạ được bày bán từ trong ra ngoài. Các dấu vết thân yêu các tiếng cười tiếng ca xưa không còn nữa, dầu nắng chiều vàng mềm mại vẫn còn lung linh từ mái hiên khu hàng xóm củ. Hương thơm từ không gian cao như đã ngừng rơi đâu đó...Những ấn tượng thời niên thiếu ấy đã theo dòng đời trôi vào quên lãng từ hơn 40 năm qua. So ra, nó chỉ là một phần gì rất khiêm nhượng, quá tầm thường, thật nhỏ bé, so sánh với những mất mát đau thương nghiệt ngã, những đòn thù mà con người VN đã phải hứng chịu sau 1975. Nhưng đống tro tàn kỷ niệm ấy phải chăng chỉ là lớp khoác che đậy những tâm tư vẫn còn âm ỉ cháy trong lòng kẽ tha hương, chỉ chờ ai đó khơi lại để trôi về, như người xưa ngóng đợi một mình bên bờ sông vắng vì ai đó đã lỗi hẹn...
Vào những tháng ngày thơ ấu trong trí nhớ non kém mà tôi còn có thể hình dung được, cả phố Phan Thiết bình dị vừa chứng kiến nhiều dâu bể đổi thay trong nước. Vua Bảo Đại xuống, Ngô Đình Diệm lên thay, sau một cuộc bầu cử "trưng cầu dân ý". Tân Tổng Thống Ngô Đình Diệm là người từng giữ chức Tuần Vũ Bình Thuận lúc mới tròn 21 tuổi, một chức vụ tương tự như Tỉnh Trưởng sau này. (Sau cuộc đảo chánh năm 1963, giấy khai tử của ông có kê khai chức vụ của ông là "Tuần Vũ Bình Thuận" chứ không phải là "Tổng Thống VNCH"). Đồng bạc mới VN thời đó đó có giá trị đáng kể. Chỉ cần hai cắc bạc chúng tôi có thể mua được cả một rổ ốc ruốc về để chị em chúng tôi "lể" ăn mệt nghỉ. Tôi nhớ lúc chánh phủ mới vừa cho lưu hành tiền mới, tôi cầm đồng bạc mới do má cho, đi mua món trái cây trị giá năm cắc. Bà bán hàng không thối lại năm cắc mà lại bà xé đôi đồng bạc giấy trả cho tôi một nữa vừa được xé ra! Trong hoang mang tôi về kể với các chị và ba má, thì mới hiểu lúc đó tân chính phủ vừa nhậm chức chưa có tiền cắc mới để cho lưu hành.
Dạo ấy MTGPMN vẫn còn trong trứng nước, chưa được Đảng CS Bắc Việt cho chính thức ra đời, nên các tuyến đường xe đò và các chuyến xe lửa đi Sài Gòn hoặc ra Nha Trang chưa bị phá hoại, vẫn còn lưu hành thông suốt. Thành phố hiền hoà quê tôi được hưởng vài năm yên lành trước khi thực sự chứng kiến những thãm cảnh của chiến tranh làm tan đi mất những hi vọng về hoà bình của người dân trong phố. Thời gian ấy tôi được may mắn theo ba tôi mấy chuyến đi Sài Gòn bằng xe lửa. Xe khởi hành rời ga Phan Thiết khoảng chừng sập tối, mình có thể ngủ một giấc cho đến khi xe ghé các trạm khuya thức dậy ăn cháo gà, rồi đến cổng ga Sài Gòn (công trường Quách Thị Trang sau này) với một không khí hấp dẫn thật khác lạ do các tiếng xích lô máy nổ bình bịch, dù lúc trời chỉ vừa tờ mờ rựng sáng. Thành phố Phan Thiết bình dị trong các năm có thể nói là thanh bình ấy thật đáng yêu với các phiên chợ Tết nhộn nhịp, và khắp phố phường dấu vết của hạnh phúc thấp thoáng ló dạng đâu đây. Ba tôi không còn đi lưu diễn với đoàn hát nữa, về lại Phan Thiết lập nghiệp với tiệm may Phan Sinh. Tuy nhiên các diễn viên củ trong đoàn hát như cô Út, chú Tao Ngộ, chú Võ, v.v... vẫn ghé thăm nhà tôi để cùng đờn ca xướng hát các bài bản ưng ý của thời đi lưu diễn. Thỉnh thoảng ba tôi vẫn ngân nga những bài ca xưa, cả những khi ông đang cắt vải thoăn thoắt theo đường phấn kẻ màu xanh với chiếc kéo cắt thật bén và lớn, hoặc lúc chân đang đạp đều nhịp chiếc máy may với đôi tay ông lèo lái các đường vải. Các máy may khác trong nhà chạy đều theo nhịp đạp của các thợ chính, thợ phụ, hoặc các anh còn đang tập sự. Các anh thợ thanh niên thì dạn dĩ hay ca góp vui nối tiếp theo ba tôi, hoặc có người ra câu đố, hoặc kể chuyện vui. Các người giúp việc đôi khi cũng trở thành đề tài cho các thanh niên giỡn phá. Các chị thợ thường chỉ phụ đơm khuy và kết nút, tham gia cuộc vui một cách kín đáo hơn bằng các tiếng cười dòn. Chị Sáu thường bị các anh thợ chiếu cố trêu ghẹo suốt ngày vì chị có nét xinh ở tuổi dậy thì. Sau giờ làm việc, các anh chị vẫn còn tiếp tục kể chuyện vui hoặc đờn ca, có khi còn ngũ lại đêm trong 1 phòng lầu dưới. Mé sau căn nhà, trên lầu trên có một bức tường bằng gạch, được xây hơi kiểu cọ, chừa khuyết một vòng tròn khá lớn như vầng trăng khiến cho người trong nhà có thể nhìn được ra sân thượng ở mé sau. Chị cả của chúng tôi, chị Hoàng Anh, thường leo ngồi vào vòng trăng đó, thả chân đong đưa vừa ca các bài như Ánh trăng trắng ngà, có cây đa to... Dạo ấy chị Anh đã là 1 thiếu nữ cao và thon gầy trong chiếc áo dài trắng. Trong khi chị Hoàng Minh (tức chị Nam) vẫn còn học trường Nữ bậc tiểu học, chị Anh đã vào học trường Phan Bội Châu, được ba má tôi mua cho một chiếc xe đạp mà lúc nào chị cũng giữ bóng loáng. (Lúc sau, theo phong trào Velo Solex, chị cũng có 1 chiếc Velo thay cho xe đạp). Chị theo sát ba tôi từ những dịp đi lưu diễn hay cả những lúc ba đi đá banh bên Sân Vận Động. Các cầu thủ đá banh mặc quần shọt, áo may ô và mang giầy đinh. Có lần trên sân banh, khi chị Anh đang giữ áo quần của ba tôi vừa thay ra, một thanh niên đến nói với chị là "Ba của cô kêu tôi đến nhờ cô đưa quần áo cho ổng thay"... Chị Anh bèn đưa hết quần áo, có cả bóp và tiền bạc. Đến khi ba tôi đá banh xong, trở lại lấy quần áo đi thay, mới biết chị Anh đã bị kẽ lạ gạt lấy hết quần áo giấy tờ. Em Hoàng Yến kế tôi hãy còn bé chưa đi học, và em Thanh Hà chỉ mới chập chững biết đi. Trong các bài ca mà tôi nghe ba tôi ca, có một bài với lời thật ngộ nghĩnh khiến tôi theo hỏi và được ba cho biết là do bác Trúc Viên Trương Gia Kỳ Sanh sáng tác, thời bác còn làm bầu gánh hát - thời thật xa xưa trước khi bác trở thành Dân Biểu. Bài hát này các chị em chúng tôi sau này đều thuộc lòng (và trở thành bài ca chung trong những dịp vui mỗi khi gia đình hội ngộ):
Mau vô trỏng, cúi đầu thưa với ổng
Rằng tôi đợi ngoài cổng
Rồi trở ra mau nói, để cho tôi thăm hỏi
Kẻo chờ lâu cẳng mỏi
Ông quan ấy thân với tôi lắm đấy
Tôi với ổng họ Trình
Trình ấy làm Quan
Còn Trình này thì bán quán giữa rừng "hoang"
Quán với Quan cũng gần
Quan với Quán một vần
Vì Trình ấy tuổi Dần có phần quan lớn
Còn Trình này tuổi Tý con chuột con, ở đầu non, nhưng mà ngon...
Còn Trình này tuổi Tý con chuột con, ở đầu non, nhưng mà ngon...
Những lúc cả nhà theo tiếng đờn của cha tôi quây quần ca hát, mẹ tôi thỉnh thoảng cũng ca góp một bài với lời lẽ thật xa xưa "Dạ dạ dập đầu ... Thưa chuyện với chị dâu ..." Có một bài ca rất dài mà lủ chúng tôi rất thích nghe giọng của Ba ca với những hơi ngân, những nhịp ngắt với tiếng song lang gỏ nhịp tài tình của điệu Xàng Xê, hoặc khúc lái ngân nga lên xuống giọng thật đặc biệt, khiến cho người nghe cảm thấy như có một làn mây ấm cúng nào đó đang vây quyện khắp không gian:
Hậu đô Bắc Hà,
Vào triều Lê Cảnh Hưng năm thứ 46,
Hân hạnh được cung nghinh Đức Bình Bắc Tướng Quân Nguyễn Huệ
Thống lãnh đại đội binh hùng
Hát khúc khải hoàn vào cổ luỹ Thăng Long
Sau khi bình giặc đã thành công
Nhưng vì thấy Lê Trịnh tranh hùng muôn dân đồ thán
Cho nên Nguyễn Tướng Quân phải diệt Trịnh phù Lê
Tảo trừ bọn Trịnh tư quyền là Trịnh Tứ Phương
Hạ thành sơn nam
Mới thấu nhập kinh đô vào Nam giao đài bái mạng vua Lê Hiến Tôn
Vì mộ tài danh viên dũng tướng thiếu niên anh hùng lỗi lạc
Chắc có lẽ sau này phải nhờ quyền bảo hộ của Tây Sơn
Thế cho nên Hiến Tôn Hoàng Đế mới định gả trung thần
Là lịnh ái nữ Công Chúa Ngọc Hân
Kịp đến n ngày mồng 3 tháng 8 năm Bính Ngọ
Vua Thái Đức nhà Tây Sơn là Nguyễn Nhạc ngự ra Bắc Hà
Bèn cùng tân quân Lê Chiêu Thống thừa nghinh trọng rất là uy nghi
Phán rằng "Từ khi phụ thân trẫm đây thất lộc
Trẫm lên kế tự ngôi trời
Đồ lao cộng tác với bá quan
Trẫm những mong rằng trăm họ được bình an
Nhưng Trẫm vẫn biết rằng tuổi Trẫm còn thiếu niên
Mà việc triều đình quá ư to tát
Bởi thế cho nên mà vận mạng của Lê triều
Chẵng may mà gặp cơn nguy biến
Trẫm chỉ nhờ lượng hải hà và ơn tư trợ
Của Tây Sơn quân
Lấy đức bủa khắp bốn phương..................................................
Sau những quãng đời khó khăn vật vã truân chuyên với cuộc sống từ những ngày Tây về ruồng bố bắt dân, rồi chuyến lưu lạc sang tận Cam Bốt học may, cha mẹ chúng tôi vừa mới bắt đầu gầy dựng được một cửa tiệm may để sinh nhai với những điều tạm gọi là yên ổn của mái ấm gia đình, tuy đơn sơ nhưng tràn đầy hạnh phúc. Bỗng nhiên một hôm cần tiền, người chủ căn phố nhà chúng tôi đang ở trở về lại Phan Thiết và quyết định bán căn nhà thật gấp, chứ không cho gia đình tôi thuê nữa, mặc dầu thời hạn thuê mướn vẫn còn và công việc làm ăn của ba tôi đang đà phạt đạt. Vì giá bán căn phố quá cao cha mẹ tôi không đủ tiền để chồng mua căn phố ấy, gia đình chúng tôi đành phải quyết định dọn đi.
Trong
khi chờ đợi dọn về căn nhà mới xây trước ấp Đức Nghỉa, gia đình chúng
tôi về ở tạm khu Cồn Chà, nơi mà tâm trí nhỏ bé trong tôi có cảm tưởng
cách xa khu nhà bên phố củ hằng diệu vợi, như thuộc về một không gian
nào xa cách hẳn... Nơi chỗ mới xa lạ chúng tôi phải đi bằng xe đạp hoặc
được Ba chở bằng xe gắn máy Sach thì mới về được đến phố Gia Long . Dầu
chỉ ở mấy tháng, chúng tôi cũng đã có dịp nhìn thấy trực tiếp nếp sinh
hoạt thay đổi của các bạn ghe mà nếp sống được gắn liền với các vụ
cá...từ những lễ lộc của "Vạn", lễ cúng tế khi có cá ông "lỵ", những mùa
cá rộ, mọi người bạn cá khắp xóm đều thắp đèn ra đường hì hục làm muối,
vô thùng, hàn xì, khiêng vác, rầm rộ thâu đêm không ai mà không bận bịu
làm lụng. Có cảnh tượng của một gia đình hàng xóm bên kia đường, đối
với chúng tôi thật lạ lùng lẫn thương tâm. Gia đình ấy có một người cha
say sưa liên miên. Họ có 2 người con trai, người con lớn đã lên 17 tuổi .
Mỗi lần say sưa, người cha về đánh đập vợ con, nhất là cậu con cả. Ông
ta lột hết quần áo người con lớn, lôi anh ta trần trùng trục ra giữa
đường quất roi tơi tả bất kể nơi nào trên thân thể trước sự chứng kiến
của đám người lớn nhỏ trong xóm tò mò đến xem...Sau mấy lần tiếp diễn
cảnh đánh đập tàn bạo ấy, người con lớn vì nhục nhã, một hôm bỏ nhà đi
biền biệt. Buổi tối khu cồn chà người ta có thể nghe văng vẳng tiếng
biển vỗ rạt rào vòng vọng thật buồn hiu với những đèn đường héo hắt vàng
vọt và mùi đất biển thoảng tanh mùi cá, thật khác với phố Lê Văn Duyệt
nhộn nhịp mà tôi đã quen thuộc.Những cảnh khá xa lạ đối với quãng đời nhỏ bé ngây thơ ấy khiến tôi nhớ và thương làm sao những ngày bên phố. Nhớ các bạn học tí hon lũ chúng tôi trường Bác Giáo Nhiều, kể cả những lần bắn "bì" (tức là giấy quấn thật cứng chắc, gập đôi lại để bắn bằng dây thun) với nhóm anh em Thuận và Hưng tiệm vàng Mỹ Quang (mà chị Tuyết Mai của tụi nó là bạn học thân với chị Anh của tôi và sau này làm phù dâu cho chị), những trò chơi "phóng bút" (dùng đầu sắt của cây viết mực chấm từng mắt cá tay và phóng ghim vào ụ cát) với các trẻ con hàng xóm. Thương những chiều nắng rọi nghiêng nghiêng từ mé nhà hàng Kim Sơn ngồi trước nhà nhìn sang công viên trước mặt chờ mẹ đi chợ về với chút quà, thương mùi thơm bánh mì Nghi Hưng mới ra lò nóng hổi được các trẻ em đi rao bán, thương những ly "siủ phé" ba và các tay mê đá banh như chú Bảy Đài, chú Buộc (sau này vì bất cẩn trong lúc đổ chì, chú bị mù 1 mắt), chú Tí Hoan, v.v... quây quần ngồi uống bàn bạc sau những trận đá từ sân banh về, hay thương mùi nem nướng và mùi bánh xèo thơm ngào ngạt từ quầy bánh xèo cố hữu của gia đình chị Quyệt, một người bạn thật dịu hiền của chị Nam (ba má chị đặt tên chị là Nguyệt, nhưng khi làm giấy tờ bị đánh vần sai đi, trở thành "Quyệt" ) bên hông tiệm vàng Đạt Thành mé tiệm Kim Sơn mà tôi tin vẫn là chỗ ăn nem nướng và bánh xèo ngon nhất...mà có lẽ ấn tượng đó sẽ còn mãi cho đến suốt cuộc đời.
Khu vườn bông dưới dốc cầu điểm Thiết trước căn nhà thân yêu ấy nơi tôi lớn lên đã là địa điểm chính của bao biến cố vui buồn của người dân tỉnh lỵ ... Khoảng trống rộng lớn từ phía bên nay là tiệm may Phan Sinh nhà tôi, đối diện bên kia đường là các tiệm Tân Lập, Lê Chính Ngữ bán xe đạp, và tiệm nước Nam Nhất Viên... sang góc xéo là quán nước Tân Phương Viên... và bên kia đường là tiệm vàng Đạt Thành đầu phố Gia Long... là một mặt bằng tráng nhựa khá lớn mà ta có cãm tưởng có công dụng tương tự như quãng trường Thiên An Môn thuộc Bắc Kinh của Trung Hoa. Chính tại nơi đây đã là nơi con Rồng hùng vĩ, mỹ lệ và thiêng liêng nhất của Phan Thiết trổ tài vùng vẫy trong các dịp lễ lộc hội hè. Tại nơi ấy những cuộc diễn hành, biểu tình, các xe hoa đều quy tụ về để chuyên chở các biến cố vui buồn của thành phố. Rồi những buổi chợ Tết thâu đêm cũng đều diễn ra bắt đầu từ khu cuối vườn bông ấy kéo lan dài khắp phố Gia Long, lần ra các hang cùng ngõ hẻm của khu chợ chính.
Thật là khó quên ngày lễ được gọi là Thỉnh Ông Đi Chơi, lũ trẻ chúng tôi nô nức đi ra đường xem giữa rừng người, cảnh tượng con Rồng uốn lượn theo trái Châu được vũ lộng xoay vần liên tục bởi một thanh niên lực lưỡng để dẫn Rồng quây quyện, cuộn các con Lân vào giữa, theo tiếng trống "tùm tùm...tùm tùm..." hùng dũng, tiếng chiêng "cheng...cheng..." ngân vang, tiếng tu huýt tíu tít điều khiển, tiếng chân người của đoàn Rồng to lớn, tiếng lục lạc từ thân Rồng lúc lắc theo nhịp chân chạy xào xạc reo vang khắp nơi, cùng xen lẫn các điệu trống Lân "cắc cá lắc cắc cắc... tùng tùng...." khi thì dồn dập, khi thì "xổ..." một tràng dài, khi nhịp đều "cắc tùng tùng... cắc tùng tùng..." lúc các con Lân chồng người lên cao để tung qua mình Rồng thoát khỏi vòng vây...
Vì một dịp tình cờ tôi có đến Chùa Ông để ngắm nghía một cách say sưa các chi tiết của con Rồng Phan Thiết, dầu không bao giờ tôi đủ can đảm đến quá gần vì sợ. Mình Rồng có cài hằng ngàn chiếc "vẫy" óng ánh. Một dịp nọ, có một trẻ lượm được một chiếc vẫy Rồng, tôi và các bạn tò mò đến ngắm nghía. Mỗi vẫy Rồng là một miếng gương tròn (cỡ gương thời ấy dành cho các phụ nữ mang theo để soi mặt). Mặt sau của các vẫy gương Rồng ấy có in tên của ân nhân bảo trợ. Đầu Rồng màu trắng, với nét thanh cao, hùng vĩ, có hai chiếc sừng cong cong khúc khỹu. Mủi Rồng nở nang tròn lớn như sẵn sàng để khè ra lửa, mỗi bên mũi có các râu cong cong. Rồng có chiếc lưỡi đỏ thè dài, với hàng râu cằm toả đều xuống mé dưới miệng, vừa xinh đẹp vừa mang vẻ huyền thoại kỳ bí của một linh vật khiến chúng tôi sờ sợ né xa, không bao giờ "đụng" vào ...
Cảnh
tượng múa Rồng là cảnh của một linh vật đang đạp mây uốn mình quây lượn
theo sự thu hút của trái Châu (tức là một bảo vật). Tục truyền khi nào
có các linh vật Long, Lân. Qui, Phụng xuất hiện thì muôn dân sẽ hưởng
được cảnh thanh bình hoan lạc. Trong tâm niệm người dân, cảnh Rồng múa
như mang được hình ảnh thiêng liêng cao cả về gần lại để chiếu cố những
khó khăn của thực tế cuộc sống. Mỗi khi Rồng múa, tôi vẫn còn nhớ đầu
Rồng khá nặng cần phải có 3 thanh niên cùng gồng vác, một người mang
chịu cây trụ chánh ở giữa, hai người kia mang 2 cây xéo chịu 2 bên. Mình
Rồng là loại vải bố vừa chắc vừa mềm mại cho dể múa, màu sắc lộng lẫy
nhưng không diêm dúa. Cách đều nhau giữa các khúc nối mềm mại bằng vải
bố là hằng mấy chục khúc thân cứng cáp cho các thanh niên mang đội vào
để lượn múa. Mỗi khúc thân Rồng có 1 sườn bằng nan mây, vừa vặn cho 1
người thanh niên nai nịt chịu ở lưng, vai và đai ở hông. Cứ vài phút người này mỏi lại có người khác vào thay thế. Lưng Rồng có dẩy Vi lởm chởm
chạy dài từ đầu cho đến khúc đuôi. Cuối các chân Rồng với những móng
vuốt nhọn là hình vẽ những cụm mây. Khúc đuôi cuối cùng của Rồng là
những khía vi nhọn lỉa chỉa, khá cao, lắc lư khi múa, cũng có một cây
trụ chính của đuôi do một người nai nịt ở hông và cầm chịu ở tay, và lại
thêm 2 dây kéo bởi 2 người khác ở hai bên để múa lượn. Những ngày tôi
còn bé theo xem hội hè đình đám, nghe tiếng trống "tùm tùm...tùm tùm..."
của đội Rồng Phan Thiết hoặc tiếng trống dòn dả "Cắc cắc tùng..." của
các đội Lân chùa Ông hoặc các đội Lân Mặt Xẹp (với tiếng trống "tùm
tùm...tùm tùm tùm...tùng tùng tùng, tùm tùm..." thật đặc biệt và kỳ dị),
hay các đội Lân Sài Gòn (có leo cây trụ sắt thật cao và có múa võ) được
mời về dự lễ Thỉnh Ông, chân tay tôi bổng trở nên bủn rủn, tim hồi hộp,
vì bị thu hút mãnh liệt bởi các âm thanh kỳ diệu ấy ... Sau này nghe
nói ở thành phố nổi tiếng nào như New York hoặc Singapore có các con
Rồng rất hay và đẹp, tôi đều chú ý xem các hình ảnh để so sánh với con
Rồng Phan Thiết. Và vẫn chưa tìm được các đối tượng đáng kể để mà so
sánh...Trong ký ức tuổi trẻ thơ ngây ấy tôi nhớ hình ảnh của các bạn trẻ con bên phố. Cùng học chung trường thầy Giáo Nhiều, được gọi là thầy "Thẹo", là hầu hết lủ trẻ đường Lê Văn Duyệt dảy nhà tôi, và dảy phía bên kia bùng binh, tức đường Nguyễn Văn Thành. Cùng học chung trường thời ấy có con của các bác Vui Vui, bác Năm Phùng, tiệm Thành Kim, Mỹ Quang, Mai Xuân Trượng v.v...bên kia đường là con của bác Tân Lập, Lê Chánh Ngử... có cả hai chị em Thanh và Bạch cháu cô Nam Phong nhà ở đường Đinh Tiên Hoàng phía trong tiệm billiard chú "Buộc" nữa. Bên phố Gia Long các tiệm Vĩnh Hưng, Phước Hưng, kéo dài đến tiệm chú Bé Vĩnh Lợi cũng đều gửi con học chung trường này... Sau ngày anh cả tôi mất lúc vừa 2 tuổi, mẹ tôi sinh chị Anh rồi chị Nam. Lúc sanh được con trai, người mình có tục lệ hay cho đeo khoen ở tai để khỏi bị ông bà "bắt", vì ngỡ là con gái (?). Tôi và Hiệp con bác Tân Lập đều rơi vào hoàn cảnh đó. Hiệp con bác Tân Lập (vẫn thường được các bạn bè thân yêu gọi là Hiệp Lé, sau này được người chú tập đánh trống, trở thành 1 tay trống xuất sắc), khi đi học vỡ lòng vẫn còn mang khoen ở tai. Bây giờ mỗi khi sờ lên cuối vành tai trái tôi vẫn còn dấu lỗ tai đeo khoen ngày xưa, mặc dầu lỗ ấy đã được lấp kín từ lâu. Trường thầy Giáo Thẹo rất nghiêm và nổi tiếng đánh học trò rất đau. Viết bằng tay trái là bị khẽ tay. Nói chuyện trong lớp thầy kêu lên bắt quỳ lấy thước kẻ vào đít. Đứa nào không thuộc bài hay chưa làm bài tập thì mặt mũi xanh rờn vì sợ thầy phạt đòn. Sau này kể cả quãng đời đi lính, tôi chưa bao giờ sợ một người có nhiều uy quyền đến thế! Hôm nhập trường mẹ tôi có mua cho tôi một quyễn tập viết mà bây giờ tôi vẫn còn nhớ. Quyễn tập ấy có hàng chử in ngoài bìa xinh xinh đã khiến cho tôi suy nghĩ miên man...Đó là mấy chữ "Ngày Nay Học Tập, Ngày Mai Giúp Đời". Ôi chao quả là 1 ý tưởng ngoài sức tưởng tượng. Lủ trẻ nít ăn chưa no, lo chưa tới như chúng tôi, mà lại hình dung có một ngày nào đó mình sẽ làm một cái gì để "giúp đời". Tuy vậy, vì ngày nào cũng đọc, mấy chữ đơn sơ đó đã ghi khắc vào trong tâm khảm. Câu chữ in đó nổi bật trong ký ức về mái trường yêu dấu của thầy Giáo Nhiều. Tôi học trường thầy được khoảng 1 năm thì có 1 cậu bé kháu khỉnh con bác Năm Phùng mới vào học lớp vỡ lòng và ngồi kế bên tôi, tên là Đinh Quốc Cường em của chị Dung. Cậu em út của Cường là Tuấn lúc ấy chưa đi học. Chị Dung chơi với chị Nam của tôi và chị Tăng Thị Thiết con bác Vui Vui. Cậu bé ấy thật dễ thương, hay cho tôi mượn cục gôm hoặc đồ bào bút chì, tôi thường giúp Cường làm bài tập, và đến giờ chơi chúng tôi chơi chung. (Anh em Cường và Tuấn bắt đầu tập chơi tennis từ bé cùng với anh em Toàn và Thắng nhà ở bờ sông; sau này cả Cường và Tuấn đều trở thành những cây vợt nổi tiếng của VN). Giờ chơi trước sân trường thầy Giáo Nhiều bầy bán đủ thứ, từ me riêm, ốc khương, bánh tráng mắm ruốc, trái khế trái cốc thứ gì cũng có. Thậm chí lũ con nít chúng tôi còn có thể mua "chịu" nữa! Tôi nhớ những lần ăn kem "cà rem" chất lạnh thường buốt nhói lên tận đỉnh đầu. Ăn đu đủ bò kho, ăn xong còn húp hết cả chất nước cay và mặn ấy thì mới đúng điệu. Rồi lại có xe bán kẹo kéo với thớ kẹo lớn khi được kéo ra, ở giữa có các hạt đậu phộng vừa ngọt vừa thơm. Anh bán kẹo kéo còn kích thích chúng tôi bằng cách cho "đổ hột me", thỉnh thoảng con nít chúng tôi có ai đổ trúng thì được anh kéo thêm gấp 2, 3 lần dài hơn (mà thật ra thì cũng "mỏng" hơn). Lũ con trai thì chơi bắn bi, đáo lạc, bắn "bì", hoặc quăng cùi bắp. Các chị gái thì hay chơi các trò chơi mà con trai chúng tôi không tham dự như "đánh chắc" (tung trái banh lên, rồi chuyền xoay 1 nắm que đủa cho thật nhanh, để bắt lại quả banh kịp khi nó rơi xuống), nhảy giây (giây được nện lại bằng nhiều sợi thun thành một thớ thun dài), hoặc chơi búp bê, đá cầu ...Có lần hai chị em chúng tôi dạo bộ chung, đi lên mé cầu, trông thấy chị Dung hoặc chị Thiết, chị Nam tôi nhập bọn con gái chơi với họ, thế là tôi phải lủi thủi đi về nhà một mình, lòng ao ước phải gì mình có một người anh để chơi chung!
Trong các hình ảnh tuổi thơ ấy có bóng dáng của chính tôi ngày được ba may cho 1 bộ đồ veston mà mọi người dạo ấy gọi là áo "bành tô". Súng sính trong bộ đồ đặc biệt ấy, các chị và em nhìn tôi như thấy lạ mắt. Mẹ tôi vừa thắt nút áo cho tôi vừa kéo vạt áo cho thẳng thớm, vừa vổ đầu tôi và đùa mấy câu mà người dân thường hay trêu ghẹo những người mặc đồ veston có vẻ "bảnh bao" thời đó:
Bành tô la ghì
Ăn cắp bánh mì bỏ túi bành tô
Vì nhà gần quán bác Hai Mọi nên hai gia đình thân nhau. Ngoài các món ăn chiều hấp dẫn như bánh bèo, bánh quai vạt, mì quãng, nem nướng với các nước chấm mặn mà đặc biệt, hoặc các món chè đậu xanh, chè chí màu bửu (tức chè mè, màu đen), hoặc bánh bò được bán bởi các quầy gánh rong dọc theo phố chánh, chị em chúng tôi chiều chiều hay qua nhà bác Hai mua chỉ hai đồng "xí quách" mà đựng đầy cả một tô lớn về ăn chấm nước mắm, vừa ngon miệng vừa rẽ. Một buổi nọ, tôi sang mua 2 đồng xí quách như thường lệ, nhưng vì không tìm thấy 1 tô lớn nào trong nhà cả, tôi bèn mang đại 1 chiếc soong theo để đựng. Trông thấy chiếc soong khá lớn bác gái má anh Huệ (bác Hai Mọi) vừa cười hỏi tôi: "Thằng Tám con anh Sinh đó hả... Nhà con cái soong nào lớn hơn cái đó nữa không con?..." Vì bẽn lẽn từ đó về sau tôi không bao giờ dám mang soong chảo đi mua "2 đồng xí quách" nhà Bác Hai nữa cả. Rồi có một một tai nạn hi hữu mà tôi nhớ mãi. Dạo tôi lên chừng 6 tuổi, một hôm khi đang chơi bắn bi cùng lũ trẻ tại bãi đậu xe trước nhà, ngay lúc tôi đang lui cui chăm chú bắn bi vào lỗ bỗng nhiên tôi thấy mé trên đầu có chất gì nóng như nhớt nhỏ giọt xuống đầu tôi. Ngoảnh đầu lên nhìn thì lũ trẻ đã bỏ chạy đi đâu hết cả chỉ còn lại một mình tôi, mà lại có một chiếc xe vừa "de" vào đậu phủ ngay trên đầu tôi, lúc tôi còn đang cúi thấp xuống cặm cụi bắn bi cho vào được lỗ ! Tôi đang ngạc nhiên hoảng sợ thì nghe tiếng hốt hoảng của cha tôi. Chạy vội từ trong nhà ra đến bãi đậu xe, ông la lên: "Trời ơi xe cán con tôi rồi!..." Cha tôi vừa cầu cứu vừa cố gắng dở hỏng chiếc xe lên (nhưng không dở nỗi vì xe quá nặng). Khi tôi lòm còm bò ra khỏi gầm xe, cả ba tôi và người chủ chiếc xe đều mừng rỡ, ôm chầm lấy tôi . Dù tôi không bị hề hấn gì, ngày hôm sau ông chủ chiếc xe hơi ấy có ghé lại thăm gia đình tôi. Ông tặng 1 bó hoa và ngỏ lời xin lỗi về "tai nạn". Ông chủ chiếc xe ấy là 1 du khách ăn mặc sang trọng và dáng dấp thanh tao. Cha mẹ tôi cảm tạ về mỹ ý của ông với tai nạn thật là hi hữu đó. Hành động tặng hoa đó cũng thật là khác biệt đối với lối cư xử thường nhật khiến tôi không thể nào quên.
Các hình ảnh thời niên thiếu ấy có thể biểu tượng bằng 1 tấm hình thời bé mà tôi rất thương, dầu hình ấy đã thất lạc từ dạo tôi xa quê vào Sai Gòn học. Ngày tôi lên mười tuổi, học sinh lớp Nhất phải đi chụp hình để chuẩn bị đi thi Tiểu Học. Một hôm tình cờ đi qua tiệm chụp hình Liên Hoa chợt thấy tiệm treo 1 tấm hình khá lớn của 1 cậu bé. Nhìn kỹ té ra là hình của chính mình với áo sơ mi trắng, tóc chải dợn sóng, với nụ cười nhẹ nhàng xinh xắn. Tấm hình ấy sau khi thất lạc tôi vẫn ước mơ có dịp nào ngắm lại các bóng hình của thời bé bỏng xa xưa... Ngày tôi thi đậu bằng Tiểu Học, chị Nam mang về 1 món quà, bão rằng do chị Tăng Thị Thiết (tức chị Cà Sáu) con bác Vui Vui, bạn chơi thân của chi Nam tôi,gửi tặng tôi. Món quà đó là một con thỏ đồ chơi màu trắng, đằng sau lưng thỏ có gắn 1 chìa khoá lớn dùng để căng dây thiều. Khi quay dây thiều xong, thả xuống, con thỏ trắng "tự động" ấy nhảy lốp cốp khắp nơi thật vui mắt. Đấy là một món quà bất ngờ và đặc biệt. Bẳng về sau này, ngày nghe tin chị Thiết qua đời khi tuổi đời của chị còn rất trẻ, tôi liên tưởng món quà chị cho tôi, và cảm thấy một phần nào quãng ngày thơ ngây thân thương vừa mới mất...Cùng với chuyến dọn đi đến khu nhà mới xây trước ấp Đức Nghỉa, giữa các thay đổi với trường mới, bạn mới, lòng non dại của cậu bé trong tôi vẫn nghĩ và nhớ nhiều về Cường, cậu học trò nhỏ bé cạnh tôi một thuở mài đũng quần trường thầy Giáo Thẹo... Hình như ai đã cắt mất nơi tôi một phần gì thân thương âu yếm và hồn nhiên nhất...
Những ngày mới lớn xa quê vào học Sài Gòn, giữa những chiều nắng vàng bên phố Lê Lợi nhộn nhịp của chốn phồn hoa đô hội, hay những tối từ căn lầu nhà Dì Hai nhìn xuống con đường Phan Đình Phùng với ngựa xe trẩy hội náo nhiệt mé dưới... Tôi chợt nhớ về quê hương Phan Thiết với những cột đèn đường bình dị có quầy bánh căn và thấp thoáng đâu đó hình ảnh tiếng cười vui của các chị em tôi quây quần bên lò bánh gắp từng miếng bánh căn dòn vừa được cậy khỏi khuôn trộn vào với nước mắm, các tốp mỡ, và các thứa cá Nục kho... nhớ quê ngoại, mé xa bên kia đường đối diện khu trường Phan Bội Châu nằm sâu trong vùng ngoại ô, với bóng mát chiều tỉnh lặng khoan thai êm ả lúc khói nhà ai đang nấu cơm và tiếng gọi lanh lảnh xa xăm "Cu ơi ...về ăn cơm" ...nhớ tiếng ru con của ai đó xen lẫn giữa tiếng võng đưa kẽo kẹt giữa trưa hè "Ầu ơ... bầu ơi thương lấy bí cùng"... nhớ cảnh đồng ruộng, xanh thật là xanh, màu mạ mới cắt... và nhớ hương đồng gió nội yêu dấu của quê hương... nước mắt kẽ tha hương chợt rưng tròng.
Bây giờ, sau những cuộc đổi dời, sau những chuyến vượt đại dương, qua bao nhiêu bến bờ, qua bao nhiêu không gian, qua bao nhiêu mảnh đời, các hình ảnh thơ dại xưa vẫn còn lưu lại tiềm tàng trong ký ức. MTGPMN đã được cho ra đời để khởi đầu chinh chiến, rồi lại bị khai tử vào bóng tối, sau khi Miền Nam VN đã mất vào tay CS Bắc Việt. Nhiều trẻ tí hon cùng học chung trường thầy Giáo Nhiều ngày xưa giờ đã ra người thiên cổ. Có kẽ tha hương đang tìm kiếm trong sương mù ký ức một quãng đời hơn 40 năm xưa, như đang kiếm tìm lại những viên lưu ly trân quý. Mỗi khi chị em chúng tôi gặp lại nhau, nghe lại giọng ca của chị Nam "Mưa rơi hoa lá tơi bời, đàn ai vọng đến một chiều gió mưa ..." của một bài ca mà chúng tôi đều ưa thích; hoặc lời ca "Ta đến đây để xin lệnh phụ vương..." do chị Anh ca; hoặc giọng em Hà ngâm lời thơ "Từ buồn chị chọn em làm tri kỹ, Để đêm về gục mặt kể em nghe..." của chị Nam làm tặng em Hà, các ấn tượng và cảm giác xa xưa vẫn còn sẵn sàng để cuồn cuộn trôi về trong tôi như thác lũ - từ những nguồn sông của quê hương xa thẳm...
Lủ trẻ con xưa đã từng Học Tập, nay vẫn còn ngóng tìm qua hàng rào ngăn cách của lý tưởng ý thức hệ, mảnh quê hương bình dị thân yêu xưa, với ước mong sẽ làm được một điều nhỏ nhoi nào đó có thể gọi là Giúp Đời...
Cát Biển
Sunday, October 1, 2017
Từ Sân Trường Phan Bội Châu PT Ðến Những Giấc Mơ Biển - Cát Biển
Cầu Nguyện Hương Linh chị Huỳnh Thị Thanh Hiếu sớm phiêu diêu
nơi miền cực lạc.
Cát Biển
Vài
Ký Ức –
Hôm nay được tin chị
Thanh Hiếu, bạn cùng lớp Ðệ Nhất PBC nhập học năm 1967, vừa vĩnh biệt, lòng tôi
chợt nhớ về một tấm hình của chị trước cổng trường Phan Bội Châu…Trong chuyến
công tác hảng Boeing tại Seattle năm 1997 tôi được có cơ hội ghé thăm gia đình
chị Hiếu tại Portland Oregon, có cả chị Vân, là các chị học cùng lớp năm xưa
... Một thâm tình sau hơn 20 năm thời mài đũng quần nơi trường PBC thân yêu ...
trước khi ra về anh Sanh chồng chị Hiếu còn nhất quyết tặng tôi 1 đôi giầy, và
chị Hiếu cho xem lại tấm hình của chị mang kiếng mát, tay cầm áo ấm len đen trước
cổng trường . Tôi nói tấm hình này cần được đăng trong Ðặc San Hội Bình Thuận.
Chị Thanh Hiếu nói như vậy chị tặng luôn tấm hình nhé. Và sau đó tấm hình đã được
scan ra và phổ biến khắp nơi cùng với các bài viết về Hội Bình Thuận và trường
PBC Phan Thiết. Một tấm ảnh trông đơn sơ, nhưng nói nhiều về tính chất con người
của các cựu học sinh PBC ngày xưa, vừa chuyên cần học hành, vừa tha thước trong
nhân bản đạo đức...
Dạo đó tôi học trung học ở
Sài Gòn. Năm 1967 tôi về học lớp đệ nhất tại trường trung học Phan Bội Châu
Phan Thiết. Sau đó là các trường Đại Học ở Sài Gòn, cho đến ngày tình nguyện nhập
ngũ quân chủng hải quân khóa 20 Đệ Nhị Hổ Cáp. Hải nghiệp đã mang nhiều ấp ủ thời
tuổi trẻ, song bầu nhiệt huyết hăng say trong tính chất hào hùng cùng với các
gian lao cực nhọc nang đến cho đời lính biển nhiều nguồn thi vị lãng mạn. Những
năm học lớp đệ nhất vào mỗi buổi tối, lũ chúng tôi những người bạn yêu văn
chương, thường tụ tập ngồi ngắm sao trời, bàn luận say mê về các tác phẩm nổi
danh vào thời đó, thường là các tác phẩm triết lý gợi suy ngẫm cho tuổi mới lớn,
như Ung Thư của Thanh Tâm Tuyền, Buồn Nôn của Jean-Paul Sartre, Bonjour
Tristess của Francois Sagan, La Porte Etroite của Andre Gide do Bùi Giáng dịch
v…v… Những lúc làm thơ, viết văn cho báo trường, là những bước đầu tập tễnh vào
khu vườn văn thơ. Mãi đến lúc sang Hoa Kỳ, những buồn bã bâng khuâng từ nỗi cô
đơn nhớ nhà, nhớ bạn bè, nhớ quê hương, đã dấy lên thành một động lực mạnh mẽ
thôi thúc những bài thơ mang tâm trạng của nếp sống tha hương, về biển cả, về
quê hương.
Phan Thiết là nơi chốn để
nâng niu chiu chắt những kỷ niệm ngọc ngà của tuổi thơ. Quê hương Phan Thiết
bình dị là một miền biển mặn có con sông Mường giang lững lờ trôi:
Ai
về Phan Thiết quê tôi
Nhắn
sông Mường Mán chiều ơi nhớ cùng
Phan Thiết trong lòng tôi
vẫn mãi mãi là một chốn thân thương tuyệt vời của thời niên thiếu, khi tâm hồn
còn bát ngát những ngây ngô non dại…Những niềm hạnh phúc vô biên với những câu
chuyện đầy ly kỳ lẫn thi vị do người Cha kể lại, đã được chị em lắng nghe say
mê từ lúc còn bé, đến những buổi cơm chiều đậm đà hương vị quê hương có canh
chua, cá nục kho, gỏi cá mai do người Mẹ nấu, quây quần với tiếng cười tiếng ca
náo nhiệt của các chị em trong nhà. Những kỷ niệm đậm lắng mãi trong một nơi
sâu thẳm của ký ức, để ta mang theo suốt cuộc đời. Thành phố đó cũng mang nhiều
hình ảnh lam lũ bình dị của những người dân chài miền biển. Những người dân
Phan Thiết rất chân phương hiền hòa và mộc mạc trong lối giao tiếp giữa người
và ngườị Khi lớn lên và có dịp vào Sài Gòn học trung học, dù rất yêu chốn phồn
hoa đô hội này, nhưng Phan Thiết luôn luôn trải mời tiếng gọi réo rắc, kéo tấm
lòng về với quê hương, vì nơi đó có hình ảnh của một mái ấm gia đình, có lũ bạn
thuở thiếu thời, có mớ chân tình sâu đậm:
Mường Giang óng ánh
nhẹ nhàng
Quê hương tôi đó muôn vàn nhớ thương
Người đi lạc xứ vấn vương
Chiều trông quê cũ lệ tuôn đôi hàng
Năm còn học lớp đệ nhất tại trường trung học Phan Bội Châu, Phan Thiết đã thoáng ghi nhận một mối tình học trò thơ ngây:
Phan Bội Châu áo dài tia nắng dại
Lối đi về vai chạm nhói tim nhau
Quay trở lại thời kỳ quê hương còn đắm chìm trong chiến tranh, chàng thanh niên trẻ sinh trong thời loạn đã rời ghế nhà trường để dấn thân vào cuộc chiến:
Rồi cảnh quê mình thêm khổ đau,
Bom giày đạn xéo đẩy chia ly,
Những cánh tay ôm ngày giã biệt,
Người trai nhập ngũ tuổi xuân thì
Rồi chúng tôi nhập ngũ như bao nhiêu thanh niên cùng lứa tuổi anh đã phải tòng quân trong hoàn cảnh đất nước điêu linh. Ngày bắt đầu lên đường theo tiếng gọi của non sông cũng là ngày chấm dứt cuộc đời thư sinh mơ mộng:
Anh ra đi gói theo hành trang nhỏ
Ấm quê hương thương mấy giọt lệ chào
Cửa xe cuối đời học sinh áo trắng
Khép kín khung trời thơ mộng xuyến xao
Quê hương tôi đó muôn vàn nhớ thương
Người đi lạc xứ vấn vương
Chiều trông quê cũ lệ tuôn đôi hàng
Năm còn học lớp đệ nhất tại trường trung học Phan Bội Châu, Phan Thiết đã thoáng ghi nhận một mối tình học trò thơ ngây:
Phan Bội Châu áo dài tia nắng dại
Lối đi về vai chạm nhói tim nhau
Quay trở lại thời kỳ quê hương còn đắm chìm trong chiến tranh, chàng thanh niên trẻ sinh trong thời loạn đã rời ghế nhà trường để dấn thân vào cuộc chiến:
Rồi cảnh quê mình thêm khổ đau,
Bom giày đạn xéo đẩy chia ly,
Những cánh tay ôm ngày giã biệt,
Người trai nhập ngũ tuổi xuân thì
Rồi chúng tôi nhập ngũ như bao nhiêu thanh niên cùng lứa tuổi anh đã phải tòng quân trong hoàn cảnh đất nước điêu linh. Ngày bắt đầu lên đường theo tiếng gọi của non sông cũng là ngày chấm dứt cuộc đời thư sinh mơ mộng:
Anh ra đi gói theo hành trang nhỏ
Ấm quê hương thương mấy giọt lệ chào
Cửa xe cuối đời học sinh áo trắng
Khép kín khung trời thơ mộng xuyến xao
Đại dương đã có một
sức quyến rũ. Vào thời điểm đó, chiến cuộc đang tràn lan khắp nơi trên quê
hương, với tuổi trẻ đầy bầu nhiệt huyết, nhìn cuộc đời bằng một màu xanh, màu
xanh của mặt đại dương bao la, màu xanh của hy vọng tuổi trẻ:
Xưa yêu biển anh mộng mơ hải nghiệp
Dệt hồn mình thẳm tuyệt một màu xanh
Khi gia nhập quân chủng Hải quân khóa 20 Đệ nhị Hổ Cáp, những chàng trai được đào luyện theo truyền thống từ Trường Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang đã ôm ấp một cuộc đời binh nghiệp với những chuyến hải hành phiêu lưu bất tận:
Áo trắng tinh anh mũ vành phong nhã
Nếp chỉ vàng vai áo dạ hoàng gia
Hoa biển mộng ẩn đầy vai khổ nhục
Cánh tay trần luyện hái gió đo mây
Ngày đăng quang quỳ đưa tay vũ trụ
Đeo nhẫn vàng thách thức ngũ đại dương
Xưa yêu biển anh mộng mơ hải nghiệp
Dệt hồn mình thẳm tuyệt một màu xanh
Khi gia nhập quân chủng Hải quân khóa 20 Đệ nhị Hổ Cáp, những chàng trai được đào luyện theo truyền thống từ Trường Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang đã ôm ấp một cuộc đời binh nghiệp với những chuyến hải hành phiêu lưu bất tận:
Áo trắng tinh anh mũ vành phong nhã
Nếp chỉ vàng vai áo dạ hoàng gia
Hoa biển mộng ẩn đầy vai khổ nhục
Cánh tay trần luyện hái gió đo mây
Ngày đăng quang quỳ đưa tay vũ trụ
Đeo nhẫn vàng thách thức ngũ đại dương
Suốt những
tháng năm thêu dệt mộng hải hồ, với những chuyến đi công tác, quần đảo Trường
Sa là địa danh đã ghi lại biết bao nhiêu kỷ niệm với những chuyến hải hành đầy
mưa giông bão táp, với tầm bao la của biển trời, và sự nhỏ nhoi cô độc của thủy
thủ giữa ngàn khơi. Các binh sĩ đóng ở các hải đảo hẻo lánh xa xôi với sóng nước
mênh mông chung quanh, chỉ có bạn là những chú chim hải âu với tiếng kêu vang
trời trên hải đảọ Các thủy thủ thường chỉ mong thấy được bóng dáng con tàu để
tưởng nhớ đến đất liền, bắt cầu nối nhịp với đời sống loài ngườị Người thuỷ thủ
liên tưởng một thế giới biển cả thâm sâu bí ẩn, và hằng hà sa số các sinh
vật đặc thù kỳ lạ trong thế giới thủy cung:
Rồi từ đó loài kình ngư lượn sóng
Mộng thủy cung huyền thoại mỹ nhân ngư
Ngắm sao trời gió lũ sóng ba đào
Đi chất ngất chuyến phiêu lưu kỳ ảo
Chiều Trường Sa hải âu bay ngập đảo
Con tàu vượt đại dương trong những chuyến hải hành của người lính thủy đáp lại chí tang bồng:
Bến ở đi sương mờ giăng hải lý
Gan thép thề bền bỉ với non sông
Những ca đêm hải hành vào tác xạ
Đại pháo bắn đi rung cả thân tàu
Rồi những chiều mưa giông vờn bão lớn
Tàu nghiến mình răng rắc rợn cả da
Và những chuyến xuôi buồm trong nắng sớm
Thủy thủ hát ca vang vọng cả boong tàu
Hải nghiệp tưởng đã theo mình, nào ngờ biến cố tháng Tư năm 1975 đã khiến cuộc đời rẻ qua một khúc quanh lịch sử khác, gắn liền với định mệnh của dân tộc:
Phiêu lãng đời trai ngất cao ước mộng
Bỗng một chiều ác mộng tháng Tư đen
Nhổ neo cắt xuồng đắng cay tấc lưỡi
Xếp lá cờ tức tưởi kiếp tha hương
Buổi chiều tháng Năm năm 1975 tại hải phận Phi Luật Tân, chưa bao giờ người tha hương lại có một cảm giác lưu vong buồn nản cho kiếp người đến tức tưởi như thế. Bây giờ mỗi khi nhắc lại biến cố này không khỏi nấc nghẹn nơi cổ:
Ngày Ba tháng Năm tàu vào Phi phận
Con số chiếc tàu sơn cạo, xóa tên
Bao nhiêu uy danh nay thành hư ảo
Khối sắt vô hồn, thây xác rỗng tênh
Còi chào sĩ quan nghe cay đắng nhức
Viên chức Hoa Kỳ trình ủy nhiệm thư
Nhận các con tàu vừa thành vô chủ
Áo biển trẽn trơ ngày mất bến bờ
Trong lòng mang tâm sự của một người lính trẻ, đã không còn được cả cái quyền buồn vì da ngựa bọc thây nữa, và đã thoáng lo âu về tương lai đất nước:
Cả trời tin yêu một lòng anh dũng
Tuổi trẻ kiêu hùng dâng hiến quê cha
Nay quê chẳng còn, con buông chí cả
Mai con đi rồi ai giữ quê tả
Buổi chiều trao trả chiến hạm lại cho các sĩ quan Hoa Kỳ để họ bàn giao tàu lại cho hải quân Phi, khi lệnh hô: “Hạ kỳ!”, cả thủy thủ đoàn anh ai cũng chào tay mà khóc sướt mướt, vì biểu tượng cuối cùng của đất nước, chất keo sơn cuối cùng gắn bó giữa những người bạn đồng đội đã bị tước đoạt đi:
Chiều gió mơ màng hàng người im phắc
Đứng thẳng boong tàu cứng ngắt, chào tay
Nhìn lá cờ vàng lòng đau quặn thắt
Còi thổi: “Hạ kỳ”, mọi mắt đều cay
Có kẻ nấc lên người kềm nước mắt
Nhìn lại bạn bè hận ức bủa vây
Hăm Chín Tháng Tư khăn tang ban phát
Tàu có hai xuồng chung thủy đón đưa
Lệnh gom quân vĩnh biệt đến giờ
Không kéo thuyền lên mà đành đoạn cắt
Thủy thủ chặt giây, hồn tim se thắt
Lìa bỏ con thuyền dứt bến bờ thương
Mồng Bảy tháng Năm ta mang đời tị nạn
Từ đó hằn sâu dấu tích quê hương
Tại trại tị nạn Orote Point ở Guam, chúng tôi đã cảm nhận cả một nỗi niềm cô đơn trống vắng mênh mông vào những tháng ngày đầu tiên trên xứ người. Nghe hồn mình như chú chim lạc bầy giữa thành phố lạ, mà lòng vẫn ray rức khôn nguôi tiếc nuối những tháng ngày lênh đênh trên biển cả:
Khuya nay lệ đắng hành trang
Chim về phố lạ, lũ đàn bỏ rơi
Sóng ơi xin chớ gọi mời
Biển yêu chớ trách một đời dở dang
Trước ngày ra đi khoảng 2 tuần, tôi được Thiếu Úy Hoành Khoá 23 cho biết tôi vừa có Nghị Ðịnh thăng cấp Ðại Úy, nhưng tâm trí nào còn màng đến chuyện lên lon hay xuống cấp…Trong hành trình tức tưởi rời bỏ quê hương đi vào một phương trời xa lạ, anh em binh sĩ đến hỏi “Trung Úy ơi, mai mốt qua xứ Hoa Kỳ xa lạ, mình làm gì để sống hả Trung Úy?” Có biết đâu lòng mình cũng đang hoang mang không kém gì những binh sĩ này:
Chiều nào nghe tên mình đọc trên loa
Ngỡ ngàng bước lao mình cơn gió lốc
Đi ở chia tay giã từ rào cổng
Mỏi gót chân đời nên cười hay khóc?
Cuộc đời tha hương sau đó chỉ là những chuỗi ngày dật dờ cho qua một kiếp người:
Mỗi ngày xa quê là một ngày lạc lỏng
Mỗi bóng mặt trời là một kiếp khổ sai
Mỗi tối hoàng hôn là âm tỳ tủi nhục
Mỗi sóng reo đùa là mũi nhọn chởm gai
Rồi từ đó loài kình ngư lượn sóng
Mộng thủy cung huyền thoại mỹ nhân ngư
Ngắm sao trời gió lũ sóng ba đào
Đi chất ngất chuyến phiêu lưu kỳ ảo
Chiều Trường Sa hải âu bay ngập đảo
Con tàu vượt đại dương trong những chuyến hải hành của người lính thủy đáp lại chí tang bồng:
Bến ở đi sương mờ giăng hải lý
Gan thép thề bền bỉ với non sông
Những ca đêm hải hành vào tác xạ
Đại pháo bắn đi rung cả thân tàu
Rồi những chiều mưa giông vờn bão lớn
Tàu nghiến mình răng rắc rợn cả da
Và những chuyến xuôi buồm trong nắng sớm
Thủy thủ hát ca vang vọng cả boong tàu
Hải nghiệp tưởng đã theo mình, nào ngờ biến cố tháng Tư năm 1975 đã khiến cuộc đời rẻ qua một khúc quanh lịch sử khác, gắn liền với định mệnh của dân tộc:
Phiêu lãng đời trai ngất cao ước mộng
Bỗng một chiều ác mộng tháng Tư đen
Nhổ neo cắt xuồng đắng cay tấc lưỡi
Xếp lá cờ tức tưởi kiếp tha hương
Buổi chiều tháng Năm năm 1975 tại hải phận Phi Luật Tân, chưa bao giờ người tha hương lại có một cảm giác lưu vong buồn nản cho kiếp người đến tức tưởi như thế. Bây giờ mỗi khi nhắc lại biến cố này không khỏi nấc nghẹn nơi cổ:
Ngày Ba tháng Năm tàu vào Phi phận
Con số chiếc tàu sơn cạo, xóa tên
Bao nhiêu uy danh nay thành hư ảo
Khối sắt vô hồn, thây xác rỗng tênh
Còi chào sĩ quan nghe cay đắng nhức
Viên chức Hoa Kỳ trình ủy nhiệm thư
Nhận các con tàu vừa thành vô chủ
Áo biển trẽn trơ ngày mất bến bờ
Trong lòng mang tâm sự của một người lính trẻ, đã không còn được cả cái quyền buồn vì da ngựa bọc thây nữa, và đã thoáng lo âu về tương lai đất nước:
Cả trời tin yêu một lòng anh dũng
Tuổi trẻ kiêu hùng dâng hiến quê cha
Nay quê chẳng còn, con buông chí cả
Mai con đi rồi ai giữ quê tả
Buổi chiều trao trả chiến hạm lại cho các sĩ quan Hoa Kỳ để họ bàn giao tàu lại cho hải quân Phi, khi lệnh hô: “Hạ kỳ!”, cả thủy thủ đoàn anh ai cũng chào tay mà khóc sướt mướt, vì biểu tượng cuối cùng của đất nước, chất keo sơn cuối cùng gắn bó giữa những người bạn đồng đội đã bị tước đoạt đi:
Chiều gió mơ màng hàng người im phắc
Đứng thẳng boong tàu cứng ngắt, chào tay
Nhìn lá cờ vàng lòng đau quặn thắt
Còi thổi: “Hạ kỳ”, mọi mắt đều cay
Có kẻ nấc lên người kềm nước mắt
Nhìn lại bạn bè hận ức bủa vây
Hăm Chín Tháng Tư khăn tang ban phát
Tàu có hai xuồng chung thủy đón đưa
Lệnh gom quân vĩnh biệt đến giờ
Không kéo thuyền lên mà đành đoạn cắt
Thủy thủ chặt giây, hồn tim se thắt
Lìa bỏ con thuyền dứt bến bờ thương
Mồng Bảy tháng Năm ta mang đời tị nạn
Từ đó hằn sâu dấu tích quê hương
Tại trại tị nạn Orote Point ở Guam, chúng tôi đã cảm nhận cả một nỗi niềm cô đơn trống vắng mênh mông vào những tháng ngày đầu tiên trên xứ người. Nghe hồn mình như chú chim lạc bầy giữa thành phố lạ, mà lòng vẫn ray rức khôn nguôi tiếc nuối những tháng ngày lênh đênh trên biển cả:
Khuya nay lệ đắng hành trang
Chim về phố lạ, lũ đàn bỏ rơi
Sóng ơi xin chớ gọi mời
Biển yêu chớ trách một đời dở dang
Trước ngày ra đi khoảng 2 tuần, tôi được Thiếu Úy Hoành Khoá 23 cho biết tôi vừa có Nghị Ðịnh thăng cấp Ðại Úy, nhưng tâm trí nào còn màng đến chuyện lên lon hay xuống cấp…Trong hành trình tức tưởi rời bỏ quê hương đi vào một phương trời xa lạ, anh em binh sĩ đến hỏi “Trung Úy ơi, mai mốt qua xứ Hoa Kỳ xa lạ, mình làm gì để sống hả Trung Úy?” Có biết đâu lòng mình cũng đang hoang mang không kém gì những binh sĩ này:
Chiều nào nghe tên mình đọc trên loa
Ngỡ ngàng bước lao mình cơn gió lốc
Đi ở chia tay giã từ rào cổng
Mỏi gót chân đời nên cười hay khóc?
Cuộc đời tha hương sau đó chỉ là những chuỗi ngày dật dờ cho qua một kiếp người:
Mỗi ngày xa quê là một ngày lạc lỏng
Mỗi bóng mặt trời là một kiếp khổ sai
Mỗi tối hoàng hôn là âm tỳ tủi nhục
Mỗi sóng reo đùa là mũi nhọn chởm gai
Hôm nay nhận thêm
tin chị Thanh Hiếu lìa đời, như sự vĩnh biệt cuả những bạn thân xưa thời
trai trẻ...những Diệu Lý, Bá Long, Nam Bò, Sử Rỗ, Dũng Lọ v.v... Mình tự hỏi
thế nào là sự hiện diện của chúng ta ...như những đêm kế bên hảng nước đá Huỳnh
Ðức thời theo học lớp Ðệ Nhất trường PBC, từng bàn luận:
Con người là các sản phẩm chưa hoàn tất –
Unfinished products,
Cho tới vài giây trước khi buông tay nhắm mắt.
Cuộc hành trình
Thế có phải chăng là một chuỗi dài học hỏi,
để vượt qua các giới hạn?
Một hôm nào, chợt nhìn lại, tuổi xuân đã qua, dù giấc mộng giang hồ trên biển cả vẫn còn rất mãnh liệt, trong ta chỉ còn ký ức của một thời ngạo nghễ:
Nay phố lạ áo gươm trao trả mộng
Thoáng rượu nồng hổ chợt nhớ rừng xưa
Ôi hải nghiệp biển yêu còn ấp ủ
Tóc ngã màu chim rũ cánh phiêu du…
Con người là các sản phẩm chưa hoàn tất –
Unfinished products,
Cho tới vài giây trước khi buông tay nhắm mắt.
Cuộc hành trình
Thế có phải chăng là một chuỗi dài học hỏi,
để vượt qua các giới hạn?
Một hôm nào, chợt nhìn lại, tuổi xuân đã qua, dù giấc mộng giang hồ trên biển cả vẫn còn rất mãnh liệt, trong ta chỉ còn ký ức của một thời ngạo nghễ:
Nay phố lạ áo gươm trao trả mộng
Thoáng rượu nồng hổ chợt nhớ rừng xưa
Ôi hải nghiệp biển yêu còn ấp ủ
Tóc ngã màu chim rũ cánh phiêu du…
Cát Biển
PBC-68
Friday, March 3, 2017
Trung Học Phan Bội Châu - Phan Thiết Ngày Xưa Thân Ái
14/07/200500:00:00(Xem: 6888)
Kính tặng Quý Ân Sư và Bạn Bè -- Riêng Mai Minh, Trầm Kha và Nguyễn Minh Đức.
Năm 1991 về thăm lại quê hương Phan Thiết, cái địa danh mà trong suốt ba chục năm chinh chiến luôn, được la làng là thành đồng xã nghĩa, là hậu phương lớn trong hai cuộc chiến tranh chống ngoại xâm, tóm lại phải được tưởng thưởng. Nhưng hởi ơi, tất cả đã trái ngược hoàn toàn cho tới khi đảng đổi mới để cứu nước. Thành ra Bình Thuận, Phan Thiết hầu như đã không còn bạn bè, phố xá, không còn hơi thở và sinh khí của một miền quê hương biển mặn thân thương, đã được tổ tiên xây dựng suốt ba trăm năm qua, bằng máu và nước mắt. Những con đường mơ mộng rợp dưới nắng hoa buổi trước, mang tên những anh hùng, liệt nữ như Nguyễn Hoàng, Lương ngọc Quyến, Trần Cao Vân, Trần quý Cáp, Huyền Trân Công Chúa.. cũng theo giông bão Truờng Sơn mà tan biến trong cõi muôn trùng.
Hai mươi năm quốc cộng chinh chiến triền miên, chẳng những gây nên cảnh nồi da xáo thịt, mà còn tạo nên cảnh đối đầu bi thảm về ý thức hệ, rồi còn chịu thêm nỗi trăn trở của cơn sốt chính trị do bọn loạn tướng, kiêu tăng gây ra, xô đẩy nhiều mái đầu xanh vô tội vào ngỏ cụt, làm tổn thương đến những mái trường thân yêu tại Phan Thiết, khi bị mang tiếng tiếp tay với giặc, phá nát Phan Thành.
Theo tài liệu hiện hành, tính đến năm 2005, trường Trung Học Công Lập Phan Bội Châu, tọa lạc tại đường Nguyễn Hoàng, thành phố Phan Thiết, được công nhận là một trong sáu trường trường trung học công lập phổ thông nổi tiếng nhất trong nước về mọi phương diện, từ trường ốc, việc giãng dạy và trên hết là số học sinh tốt nghiệp bậc trung học , trong đó có nhiều người tài giỏi, đạo đức và thành công lớn khi bước vào đời. Hiệu Trưởng hiện nay là Hoàng công Bình, cũng là một cựu học sinh của trường, niên khoá 1955-1963. Sau ngày 30-4-1975, có nhiều nam nữ giáo sư cũng như cựu học sinh của trường định cư khắp nơi trên thế giới. Tính đến tháng 3-2002 có hơn 50 cựu giáo sư và trên 400 học sinh từ niên khoá 1952 (Trần Thiện Hiệp, Nguyễn Đình Duật) tới niên khoá 2000 (Từ Tâm). Nhắc tới trường Phan Bội Châu, ngoài việc tìm hiểu quá trình hoạt động, những thăng trầm kỷ niệm, cũng không thể nào không nhắc tới những cựu học sinh đã hy sinh cho tổ quốc trong cuộc chiến vừa qua, trên một trang danh sách dài thườn thuợt, mà người nằm xuống đầu tiên là Lê văn Quế và kẻ cuối cùng là Trần thiện Khải. Một hãnh diện lớn lao khác là sự thành danh của các học sinh Phan Bội Châu khi bước vào đời. Họ là những giáo sư trung, đại học, những bác sĩ, kỹ sư, dược nha sĩ, những ca nhạc sĩ nổi danh, những nhà văn nhà báo can trường, những cấp chỉ huy trong quân lực cũng như hành chánh của Việt Nam Cộng Hòa. Tất cả đều là những nụ hồng, mang hương sắc tuyệt diệu cho các thế hệ Phan Bội Châu hôm qua, hôm nay và mãi mãi như tên tuổi của vị anh hùng cách mạng dân tộc Phan Bội Châu, mà trường được vinh hạnh có được.
Từ sĩ số 110 học sinh của hai lớp đệ thất đầu tiên năm 1952, trường đã tăng lên 10 lớp với sĩ số 540 học sinh niên khoá 1956-1957, khi trường đã chính thức dời về ngôi trường mới tại đường Nguyễn Hoàng, trên khu đất của bà Hồ thị Liệt bán cho chính phủ Việt Nam Cộng Hòa vơí một giá rẽ đặc biệt gần như cho không. Cũng trong năm 1956, các học sinh lớp lớn, nhập học từ niên khoá 1952, trong số này hiện còn nhiều người đang ở trong nước cũng như hải ngoại như Trần thiện Hiệp, Pham quang Giai, Trương văn Trọng, Nguyễn đình Tứ, Nguyễn đình Duật, Lê thị Hồ, Võ thị Diệp, Võ đăng Sâm.. lại phải ra đi vì trường không có lớp đệ tứ niên. Từ đó, trường càng lúc càng tăng trưởng về mọi mặt, tới niên khoá 1970-1971 đã có tới 50 lớp vừa đệ nhất và đệ nhị cấp với 2681 học sinh và niên khóa cuối cùng 1974-1975, trường có 72 lớp đệ nhất cấp với 4092 học sinh và 25 lớp đệ nhị cấp có 1337 học sinh, đủ các ban A, B và C, D.
Từ tháng 5-1975 cho tới năm 1993, trường Phan Bội Châu chỉ mở những lớp đệ nhị cấp. Từ niên khóa 1994 trở về sau, trường Phan Bội Châu lại bao gồm các lớp đệ nhất và đệ nhị cấp như cũ, do đó học sinh tăng rất cao. Niên khoá 1995-1996, trường có 73 lớp các cấp với 3412 học sinh, niên khoá 1996-1997 có 80 lớp với 3954 học sinh, niên khóa 1997-1998 có 94 lớp với 4457 học sinh, niên khoá 1999-2000 có 96 lớp với 4475 học sinh, niên khoá 2000-2001 có 97 lớp với 4495 học sinh và niên khoá 2001-2002 có 104 lớp với 4953 học sinh.
Nửa thế kỷ thoáng chốc đã trôi qua vật vờ như mây nổi cuối trời, các vị ân sư và học sinh Phan Bội Châu cũng theo kiếp đời nổi trôi tận tuyệt.
Quê người đã sắp vào thu. Ở đây suốt ngày trời buồn u ám và cây lá cũng xơ xác vì những trận gió biển loạn cuồng. Thời tiết đổi thay, khiến ta bâng khuâng chạnh nhớ tới muà thu năm xưa ở quê nhà. Phan Thiết mỗi độ vào thu, trời hình như không thấy mây trôi bàng bạc và lá cũng chẳng vàng rơi, mà chỉ có những cơn mưa phùn bất chợt. Cùng em đi trong mưa bụi, ta cứ tưởng như đang đi trong mơ, đã khiến cho nhiều buổi tựu trường ở Phan Thiết, thành những ngày ướt lạnh run và những bài thơ yêu cũng theo từng giọt mưa trắng, nở rộ trong mãnh vườn hồn.
Quá khứ từ lâu ẩn ức đâu đây, bỗng dưng cũng cuồn cuộn theo mùa thu trở về. Ngoài khung cửa hẹp, lao xao vang vọng những tiếng cười, nói, hí hửng vô tư của lũ học trò nhỏ đang trên đường tới lớp, như tiếng đàn chim non ríu tít cất lên, ngợi ca ngày học mới. Âm thanh diễm tuyệt, lại dắt ta dò dẫm trở về khung trời xa cũ với hình ảnh quê hương, trường lớp, những thầy cô thân thương và đám bạn bè tinh quái của một thời tuổi học. Nhưng hởi ôi tất cả rồi ra cũng chỉ là ảo vọng, là cố nhân và có còn chăng cũng chỉ là sự tưởng tiếc bâng quơ cùng mớ kỷ niệm rời rạc núp lén đâu đó trong kiếp sống lang thang, trên từng trang sách cũ lạnh lùng hay thỉnh thoảng vật vờ vẫy gọi tự cõi xa mù.
Ngày xưa rất thích, nên mấy chục năm qua vẫn còn thuộc lòng bài 'tôi đi học' của Thanh Tịnh, vì lời văn trong sáng và quá cảm động, dù nội dung chỉ là lời tự sự của một cậu bé nhà quê, ghi lại cảm giác của mình trong buổi học đầu đời ở trường làng. Hồi ức của Thanh Tịnh như còn nguyên nếp, không hề sờn phai vì ông viết khi rời trường mẹ để bước vào đời. Nhưng nhức nhối và làm ta nhói đau hơn khi đọc tác phẩm của nhà văn Pháp Anatole France. Đây mới chính là tâm sự của một tên học trò đã xa xóm học mấy chục năm dài mà không một lần được ghé về thăm. Đến nay tuổi đời chồng chất, ký ức nhạt nhòa, mới chợt nhớ về trường xưa qua ảnh hình mông lung vay mượn. Dù sao chăng nữa, Thanh Tịnh hay Anatole cũng còn có diễm phúc trong lúc tuổi già, để ngồi quan sát bọn học trò nhỏ hằng ngày, rồi hoài niệm trút cạn tim óc, tạo thành đoản văn bất hủ: 'La rentré des classes', trong tác phẩm 'Le Livre De Mon Ami'.. tôi kể cho các bạn nghe những điều đã cho tôi nhớ lại mỗi năm cảnh trời thu mây nổi và những điều trông thấy, khi tôi đi ngang qua vườn Luxembourg vào những ngày đầu tháng mười. Ấy là hình ảnh một cậu bé, hai tay bỏ vào túi, cặp sách quàng lưng, tung tăng nhảy nhót đến trường. Theo dấu chân chim của Anatole, tôi cũng quay về trường xưa lớp cũ, để thu vén đâu đó trong khung cảnh miên man, những kỷ niệm còn sót lại của một thời dấu ái, dưới mái trường TRUNG HỌC PHAN BỘI CHÂU PHAN THIẾT.
Trước tháng 4-1975, thi đổ vào trường Phan Bội Châu là một niềm hãnh diện cũng như mơ ước lớn của học sinh Bình Thuận. Theo kỷ yếu thì trường chào đời vào năm 1952 và năm nay đúng 50 tuổi. Tuy thời gian hiện hữu so với các ngôi trường khác trong nước như Thăng Long, Bưởi, Quốc Học, Cường Để , Petrus Ký, Nguyễn đình Chiểu.. không là bao nhưng trường đã đào tạo rất nhiều thế hệ thành danh và nổi tiếng, với truyền thống tốt đẹp về các phương diện kiến thức, đạo đức, sự tôn sư trọng đạo và ý thức về nhân cách, tình người. Viết về ngôi trường thân thiết của mình, xưa nay đã có nhiều người nói tới với các cảm nghĩ khác nhau. Một số thầy cô thì nói về sinh hoạt và thành quả của trường trong lúc quý vị thi hành bổn phận thiêng liêng. Với các niên trưởng, đàn anh, những người lớn tuổi, được sống và chứng kiến cảnh hổn độn của thời cuộc, họ bày tỏ nhân sinh quan của mình trước biến cố. Riêng chúng tôi lớp người trên 50 tuổi, dược coi là thế hệ thứ tư (1955), thực ra cũng chỉ là một trong những dòng thác lũ của trường, vỏn vẹn chỉ có bảy năm học ngắn ngủi, nên nay muốn hoài niệm về quá khứ của một thời tuổi thơ hạnh phúc, cũng thật miên man vì hành trang khi bước vào đời, cũng chỉ đủ chất trong chiếc ba lô kỷ niệm mà thôi.
Sao có thể quên được những năm tháng êm đềm, mơ mộng dưới mái trường yêu"
Xin hãy ngồi xuống đây hởi quý thầy cô và đám bạn bè còn sót lại qua cuộc đổi đời bi thiết, để cùng gục đầu moi tim nhớ tới đâu đó những hình bóng thân thương, dù hiện tại chúng ta cách xa quê hương muôn trùng. Nhung nhớ, vấn vương,' lối xưa xe ngựa hồn thu thảo, nền cũ lâu đài bóng tịch dương ', chẳng qua cũng chỉ là những đám mây lờ lững, ngọn heo may se sắt và sương khói hoàng hôn vào buổi thu tàn. Nhưng dù thế nào chăng nữa, bao chục năm qua xa cách, trong tôi cũng như bạn bè ngày cũ, được nếp mình dưới mái trường xưa, miên viễn cũng vẫn là một thời thơ ấu, làm đôi lúc giữa tuổi già cằn cỗi của một kiếp người, bất chợt cảm động muốn khóc, khi men theo ngỏ khuất trong trái tim ta, đứng dáo dát tìm về các con đường rợp hoa phượng vỹ, báo hiệu niên học đã hết. Hăm hở đến nghẹn ngào khi bước chân lên con tàu của cuộc đời, mà năm tháng vẫn không nhạt nhòa kỷ niệm. Sau rốt nhắc tơí ngôi trường cũ, với tôi thì các thế hệ đàn anh, bạn hữu kể cả lớp sau.. vẫn luôn là những tấm gương sáng, đầy sự ngưỡng mộ, trang trọng đã theo tôi suốt cuộc hành trình cô lẽ. Và như thế tôi viết về trường Phan Bội Châu, như viết những dòng tâm sự của một tên học trò nhỏ năm nào, đồng thời cũng để thổ lộ tình yêu chân thành đối với cố nhân. Cuối cùng chắc chắn ai cũng phải đồng ý, dù đứng trên quan điểm hay ý thức hệ gì, thì cũng phải công nhận trước ngày 30-4-1975, Phan Bội Châu là một trong những trường công lập nổi tiếng nhất của Việt Nam Cộng Hòa, vì ngôi trường đẹp đẽ khang trang, hằng năm luôn có tỷ số dẫn đầu toàn quốc về học sinh thi đổ trong các kỳ thi Trung Học và Tú Tài cũng như thi tuyển vào các trường Cao Đẳng và Đại Học chuyên nghiệp. Hầu hết các vị hiệu trưởng và giáo sư rất tận tâm và có nhân cách. Nhờ thế học sinh được dạy dỗ chu đáo, không tham gia bừa bãi các cuộc nổi loạn tại địa phương, dưới mọi hình thức trá hình mà ngày nay Cộïng Sản đã xác nhận là do mình điều khiển.
Nhắc tới trường, ngày nay ai cũng hãnh diện lây về thành tích học giõi của Ung văn Đức, Nguyễn văn Tài, Nguyễn văn Thắng, Trần đình Thọ, Ngô hoàng Các, Thân trọng Nguyên, Phan hoàng Đồng.. Sau cuộc đổi đời, học sinh Phan Bội Châu hiện diện khắp nơi trên thế giới với sự thành công vượt bực của nhiều kỹ sư như Nguyễn văn Hưng, Nguyễn văn Sáng, Nguyễn minh Tạo, Tiếp sĩ Trường, Mạc Sum, Lê Tiếng, sánh vai với các bác sĩ, nha, dược sỉ như Phạm Văn Ngà, Bùi hữu Hồng, Châu thị Hoa, Nguyễn thị Kim Cúc, cùng nhiều giáo sư tiến sĩ đang giãng dạy tại các trường Đại Học Hoa Kỳ. Bên cạnh có nhiều nhà văn, thi sĩ, nhà báo, nhạc sĩ, ca sĩ như Hải Triều, Phan Thiết Phạm Đình Thừa, Mai Minh, Quãng Ngôn, Nhật Nguyễn, Mỹ Khê, Trần vấn Lệ, Trần thiện Hiệp, Phạm văn Nhàn, Cát Biển Nguyễn Văn Sáng, Anh Vũ Võ Đình Dược, Võ Thị Điềm Đạm,Lê Văn Thắng, Nguyễn lương Chỉ, Nhật Trường, Anh Khoa, Từ thế Mộng, Dũng Chinh.. cùng nhiều sĩ quan, công chức cao cấp trong chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Nhiều người đã trở nên bất tử trong tâm khảm cựu học sinh Phan Bội Châu như Huỳnh ngọc Ghênh, Lê văn Quế, Lương Cảnh Hùng, Trần thiện Khải.. vì đã hy sinh cho đại nghĩa dân tộc.
Theo sử liệu, năm 1950 Quốc Trưởng Bảo Đại ban huấn dụ thành lập các trường Trung Học trên toàn quốc. Tại Trung Việt, Thủ Hiến Phan văn Giáo cho phép mở trường Trung Học Công Lập tại thị xã Phan Thiết. Tỉnh Trưởng Bình Thuận lúc đó là Nguyễn văn Trác với ngân sách eo hẹp của địa phương, chỉ cho khai giảng niên học đầu tiên vỏn vẹn hai lớp đệ thất với 110 học sinh nam nữ. Vì trường chỉ có tên trên giấy tờ, nên tất cả gần như số không từ giáo sư cho tới trường ốc và ban giám hiệu. Trên đoạn đường lao đao lận đận này, hai lớp đàn anh đàn chị này phải đến tá túc tại trường tiểu học Đức Thắng. Niên học kế 1952-1953 trường lại thêm hai lớp nữa, tất cả bốn lớp thất, lục đều học ké ở trường Đức Thắng và Nam Tiểu Học Phan Thiết.
Qua lời kể của các đàn anh, đàn chị lúc đó như Nguyễn đình Tứ, Lê thị Hồ, Phạm quang Giai, Trương văn Trọng, Võ thị Diệp, Phạm thành Thông.. thì học sinh các lớp đầu rất lộn xộn vì gồm nhiều lứa tuổi khác nhau, có khi chênh lệch rất xa. Đây cũng do hậu quả của chiến tranh. Thông cảm hoàn cảnh khó khăn trên, hiệu trưởng lúc đó là Nguyễn văn Trác, đã cho phép học sinh có gì mặc nấy. Thành ra các học sinh gốc nhà quê hay xóm biển, đi học Trung Học với đầu trần chân đất hay khá hơn thì diện bộ bà ba trắng với đôi guốc gỗ cộc cạch.
Niên khoá 1954-1955, trường lại mở thêm hai lóp mới, nâng lên tổng số sáu lớp (2 thất, 2 lục và 2 ngũ). Lúc này tỉnh đã mướn căn lầu của Hảng nước mắm Hồâng Hưng, tại đường Trần Hưng Đạo làm phòng ốc và trường Trung Học Bình Thuận cũng được đổi tên là trường Phan Bội Châu từ đó. Giáo Sư Nguyễn xuân Tịnh được bổ nhiệm Hiệu Trưởng thay thế Giáo Sư Trần hữu Lượng và Giáo Sư Võ văn Thủy. Lúc này, học sinh tạm thời đi vào nề nếp, mặc đồng phục. Trong năm 1955, ngôi trường mới được xây cất tại đường Nguyễn Hoàng, Giáo Sư Lê Tá từ Nha Trang về thay thế Giáo Sư Nguyễn xuân Tịnh.
Năm 1955 cũng là một niên lịch quan trọng trong dòng việt sử cận đại. Ngày 23-10-1955 là cuộc trưng cầu dân ý, hoan hô đã đảo. Ngày 26-10-1955 Tổng Thống Ngô Đình Diệm tuyên bố thành lập nước Việt Nam Cộng Hòa, chạy từ vĩ tuyến 17 vào tới mũi Cà Mâu, theo tinh thần hiệp định Genève 1954. Đất nuớc chính thức chia đôi từ đó nhưng nhức nhối đau khổ vẫn là sự chia rẽ ý thức hệ trong tâm tư của học sinh, mới ngày nào còn ngồi chung dưới mái trường yêu.Sau đó trở mặt quay lưng rồi cấu xé lẫn nhau, còn ghê gớm hơn kẻ thù ngoại xâm:
'ta với em thuở xưa cùng trường lớp,
chung cô thầy , học đạo nghĩa văn chương
nhưng ý thức thì phân rẽ đôi đường
khiến bè bạn thành người dưng, kẻ lạ..'
Cũng trong năm 1955, một biến cố cực kỳ quan trọng đã đến với học sinh Phan Bội Châu, cũng may Tỉnh Trưởng Thái quang Hoàng đã kịp thời giãi quyết tốt đẹp, nếu không hậu quả chẳng biết đâu mà lường. Đêm đó (23-10-1955), học sinh Phan Thiết được lệnh đốt đuốc đi diễn hành. Trong đoàn, ngoài học sinh các trường Bạch Vân, Tiến Đưc, Bồ Đề.. thì học sinh Phan bội Châu là đông nhất (12 lớp). Chương trình được kết thúc bằng màn trình diễn văn nghệ ngoài trời tại nhà hòa nhạc lục giác, bên trong vườn hoa lớn Phan Thiết bên kia sông. Để làm giới hạn cho sân khấu, ban tổ chức dùng một đường dây neo lớn bao quanh làm hàng rào và do toán lính bảo an của Thiếu uý Nguyễn văn Châu, tục danh "Châu bụng bự", trưởng Quân Vụ Thị Trấn , phụ trách an ninh. Vì số học sinh quá đông, lại thiếu tổ chức, nên mạnh ai nấy đều cố chen lấn để được đứng gần sân khấu, vì vậy phía sau đùn phiá trước và cuối cùng vượt vòng dây giới hạn. Thay vì dùng loa phóng thanh kêu gọi học sinh giữ trật tự hay cố gắng sắp xếp hàng ngủ tại hiện trường, Thiếu úy Châu lại ra lệnh cho lính dùng đuốc mở rộng vòng đai. Kết quả nhiều học sinh nhỏ đứng đầu bị phỏng nặng vì không thể lùi nổi ra phiá sau với rừng người đang bịt kín. Tức giận trước hành động quân phiệt trên, một số học sinh đàn anh của Phan Bội Châu phản đối. Như lửa đổ thêm dầu khi "Châu bụng bự" ra lệnh cho lính đánh học trò, thế là cuộc ẩu đả bắt đầu, đêm văn nghệ tan rã. Một số học sinh bị bắt về nhốt tại Quân Trấn với tội danh phá rối trị an. Các trường Trung Học tại thị xã cũng bị đóng cửa với lý do làm loạn. Do sự chống đối của thân hào nhân sĩ và phụ huynh học sinh, nên vài ngày sau trường mở cửa trở lại, Thiếu úy Châu bị thuyên chuyển đi nơi khác. Việc học hành lại tiếp tục bình thường nhưng các học sinh có tên trong bảng đen thì học bổng bị cúp. Hành động trên vô tình giúp cho giặc, lôi kéo thêm một số học sinh đang phân vân trước thời cuộc, càng tới gần bờ vực thẳm của sự tuyên truyền, làm mất mát một phần tài năng của quốc gia sau này. Cũng may tệ trạng này tại Phan Thiết đã sớm chấm dứt thời gian ngăn sau đó.
Năm 1956 trường chính thức dời về địa điểm mới đường Nguyễn Hoàng gần chợ phuờng Phú Trinh. Cũng kể từ đó, con đường trên trở thành con đường huyền thoại của Phan Thiết, sáng sáng chiều chiều đón đứa vẫy gọi những tà áo trinh nguyên, trên đường vào lớp hay trở về. Hai bên đường có nhiều hoa phượng vỹ, hàng nối hàng tiếp nối, từ đầu cầu sông Mường Mán cho tới tận cổng trường. Những ngày sắp vào hạ, áo trắng học sinh đi giữa rừng hoa phượng đỏ, xác hoa rơi đầy trên tóc, nở rộ trong mắt và mềm giữa những trang lưu bút rất tình. Năm 1956 cũng là cái mốc phân ly đầu tiên của trường vì các lớp đàn anh phải đi Nha Trang hay Sài Gòn dự thi Trung Học Đệ Nhất Cấp và không trở lại vì Phan Bội Châu không có đệ tam và hội đồng thi. Còn gì buồn hơn cảnh chia tay và nổi ấm ức đối với các niên trưởng cũng mang tiếng là Phan Bội Châu nhưng chưa hề bước vào trường lớp mới lần nào.
Cũng kể từ đó, học sinh Phan Bội Châu mất vui vì kỷ luật đã khép chặt. Đây cũng là kỷ nguyên đuổi học và phạt cấm túc. Nhờ thế học sinh nam nữ của trường đều trở nên hiền ngoan, vì ai cũng sợ bị đuổi ra khỏi trường.
Bắt đầu niên khoá 1957-1958, đã phân ban Anh, Pháp. Riêng Hán văn mỗi tuần có một giờ học trong môn Việt văn. Các lớp từ đó cũng pha trộn nam nữ học chung, làm sinh hoạt xáo trộn vì ai cũng phải chưng diện, chải chuốc và ráng chăm học, may ra lọt được vào mắt xanh của người mình mơ mộng. Thời gian này, trường tương đối đầy đủ với các tiện nghi, phòng học khang trang trong dãy nhà lầu hai tầng. Ngoài ra còn có phòng nhạc, phòng thí nghiệm, văn phòng nhà trường, văn phòng ban Giám Hiệu, tư thất Hiệu Trưởng, sân túc cầu, bóng chuyền, bóng rổ.. Hai phòng học mới xây trệt nằm cạnh phòng nhạc cũng sắp hoàn thành và dự án dãy lầu mới phiá sau cũng sắp được thực hiện vì bắt đầu niên khoá 1961 trường mở đệ nhị cấp với đầy đủ các ban A,B,C và D.
Vào học Phan Bội Châu ngoài việc khỏi đóng học phí như các trường tư thục Chánh Tâm (Ngô Đình Khôi), Bồ Đề, Bạch Vân, Tiến Đức hay bán công Phan Chu Trinh, còn có cái vinh hạnh đứng chung trong một đoàn thể đông đảo và quan trọng nhất thị xã Phan Thiết. Thật vậy học sinh Phan Bội Châu luôn dẫn đầu trong các cuộc diễn hành khắp phố phường thị xã khi có lễ hội. Các đội tuyển túc cầu, bóng chuyền, bóng rổ của trường có tài nghệ ngang ngửa với đội tuyển của Ty Cảnh Sát Quốc Gia Bình Thuận và trường Hoa Kiến Anh. Thời gian đi học, ai cũng sợ nhất là sáng thứ hai hằng tuần làm lễ chào cờ. Ngoài việc quần áo phải chỉnh tề và đi học sớm hơn thường lệ.. nếu không đúng mốt hay trể giờ, trai gái đều giống nhau, sẽ bị thầy Hiệu Trưởng Lê Tá phạt vì ông ta luôn luôn hiện diện trước cổng trường vào mỗi sáng thứ hai. Sau này qua đời lính, thấy thấm thía về Quốc Kỳ và màu cờ sắc áo mới thương biết bao các buổi lễ chào cờ đầu tuần khi còn học tại trường.
Thập niên 90 quay về nương đất cũ, thăm lại cố hương Phan Thiết, quê nhà đã như thay đổi hết, không còn bạn bè, không còn người cũ ngay tới cái tên đường Nguyễn Hoàng cũng theo dâu bể và khỉ vượïn rừng xanh mà tan biến vào cát bụi thời gian. Không còn gì cả khi thăm lại ngôi trường thân yêu ngày cũ. Gốc phượng già trước trường thêm cô đơn cằn cổi hơn và dường như cũng theo người, theo đời mà buồn rầu thê thiết. Nhìn cảnh tiêu sơ hoang phế của mãnh đất thân yêu mà ngậm ngùi chua xót về bàn tay tàn phá của giặc, về nỗi mất tên của con đường huyền thoại, và thương tiếc cho công trình xây dựng , tô điểm làm cho ngôi trường càng ngày càng tốt đẹp của các vị Hiệu Trưởng từ năm 1955-1975 như Thầy Lê Tá (1956-1963), Thầy Nguyễn đức Hiển và Thầy Đào Trứ (1963-1966), Thầy Nguyễn tiến Thành (1966-1968), Thầy Nguyễn thanh Tùng (1968-1973) và Thầy Lê khắc Anh Vũ (1973 tới 19-4-1975).
Trong suốt bảy năm học, danh sách các vị ân sư càng lúc càng dài qua từng lớp, từng niên khoá và theo tuổi đời, tình cảm thêm gắn bó kính phục. Như có những giọt nước mắt chân thành rơi xuống từng trang giấy, khi chạnh lòng hồi tưởng tháng ngày qua, giờ thầy cô ai còn ai mất" ai đã bị vùi dập trong lớp sóng phế hưng loạn cuồng, như thân phận của những học trò Phan Bội Châu, qua các thế hệ trước năm 1975. Tôi nhớ các cô Xuân Anh, Huỳnh Yến, Vũ Bột.. những hoa ngọc lan hương sắc đầu tiên của trường, một thời đã dẫn hồn tôi vào lớp học, bàn tay tuy ấp trên sách mà tim bâng khuân. Tôi thương các thầy Long, Tuệ, Ru, Chương, Tiến Thành, Khắc Mão, Bá Đợi, Phụng Tường, Chung, Mậu.. đã dạy dỗ chu đáo, làm cho tôi hiểu biết tường tận, có kiến thức và đạo đức để làm hành trang sau này ngất ngưởng bước vào đại học và cửa đời. Tôi thích các thầy Phan xuân Hường, Nguyễn kỳ Tâm, Vĩnh Giên.. mỗi người một vẽ, tài hoa vẹn vầy nhưng tất cả cũng chỉ có mục đích đưa học trò mình thành kẻ hữu dụng sau này. Sau rốt tôi mê các thầy Vũ Trang, Thế Viên và Hữu Huân, những Giáo Sư Việt Văn, môn học mà tôi ưa thích nhất. Các vị ân sư đã khai tâm và dẫn dắt tôi vào thế giới đam mê của thi ca, kéo tôi càng lúc càng rời xa cuộc đời thơ ngây học trò, càng lúc như muốn cất cánh bay vút vào khung trời sầu thảm không đáy của hệ lụy tình si.
Thật vậy ở tuổi đời 15, 16 tôi biết gì về tình yêu trai gái" Cho dù trong chương trình học có nhiều tiểu thuyết lãng mạng của các nhà văn tiền chiến trong và ngoài Tự Lực Văn Đoàn như Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam, Nguyễn Tuân, Lan Khai, Lê văn Trương, Lưu trọng Lư, Đông Hồ, Hoàng ngọc Phách.. Còn tình yêu trong các tác phẩm cổ điển như Truyện Kiều, Cung Oán, Lục văn Tiên, Bích câu, Nhị độ mai.. thì có gì hấp dẫn" Nhưng từ khi được khai tâm, sân trường bỗng rộn rã tiếng chim hót, tôi thích trở thành đám mây trắng lơ lững bay tìm lá xanh, tôi yêu thơ nhạc càng lúc càng sâu đậm và muốn trốn lánh tất cả những lụy phiền. Cũng kể từ đó tôi là người của mộng, của các nhân vật ảo trong Đời Mưa Gió, Thoát Ly, Hồn Bướm Mơ Tiên, Trống Mái, Nữa Chừng Xuân.. tôi ghê sợ khi ngó tới những định lý, phương trình, lượng giác.. Thế giới của tôi lúc đó là thi ca và con đường trước mặt luôn xôn xao mời gọi kẻ đam mê.
Rồi thì ngay trong lớp học, thầy giảng thầy nghe, tôi với hồn tôi rủ nhau lang thang tìm gió và khi sực tỉnh giấc mơ hoa, cũng là lúc thầy Phan xuân Hường, Giáo Sư Toán Lý Hoá cũng là Giáo Sư hướng dẫn lớp, thay thế ông tơ bà nguyệt, ban cho tôi chuổi vòng ngọc thạch dài trong sổ điểm, phạt cấm túc một tuần lễ liên tiếp tại phòng Tổng Giám Thị để rửa óc, khiến tôi chợt tỉnh cơn mê, vì nếu tái phạm sẽ được lang thang suốt ngày nơi phố chợ.
Công bằng khi gợi nhớ tới những dấu ái ngày xưa, lúc đó phần lớn học sinh đều mết thầy Hồ thế Viên, giáo sư Việt Văn các lớp ngũ tứ. Bấy giờ trong trường có rất nhiều thầy trẻ tuổi, đẹp trai, hào hoa phong nhã như các thầy Mậu dạy vẽ, thầy Tâm dạy toán, các thầy Chung, Giên, Long, Chương, Hường.. nhưng nói tới phong cách nghệ sĩ, thì không thầy nào có thể so sánh và hấp dẫn hơn thầy Viên. Dáng người cao ráo, ăn mặc luôn chải chuốt đúng thời trang, vét, cà vạt, giầy da mũi nhọn, lại thêm giọng Huế trầm bổng khi giảng bài, khiến cho một Kiều nguyệt Nga có thể thành Lý lệ Hoa, một Thúy Kiều trở nên minh tinh Thẩm Thuý Hằng và hơn hết là thầy đã dùng thơ của mình để hướng dẫn bài học. Bởi vậy dù đã qua mấy chục năm trầm kha tận tuyệt, nhưng bốn câu thơ trữ tình diễm tuyệt của chính tâm sự thầy với người yêu, được mượïn để giải thích sự oan trái trong cuộc tình giữa Lục văn Tiên và Kiều nguyệt Nga".
'hôm qua đọc hết bài thơ,
của người xứ Huế tôi ngờ chiêm bao
thì ra vẫn chuyện má đào,
thì ra vẫn chuyện lao đao của tình..'
THẾ VIÊN là tên thật cũng là bút hiệu của nhà thơ Thế Viên, sinh ngày 31-10-1935 tại Huế. Năm 1961 đang dạy học thì bị động viên khoá 14 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. Năm 1966 được giải ngủ về dạy tại trường Nguyễn đình Chiểu Mỹ Tho. Năm 1968 lại bị tái ngủ cho tới năm 1975. Đã cộng tác với nhiều tờ báo tại Sài Gòn như Cải Tạo, Đời Mới, Nguồn Sống Mới, Văn Nghệ Mới, Hiện Đại, Văn Học, Vấn Đề, Văn, Bách Khoa.. có chân trong Trung Tâm Văn Bút Việt Nam. Các thi phẩm đã xuất bản gồm Người Yêu Tôi Khóc (1959), Đau Thương (1960), Nỗi Buồn Của Anh (1961), Khuôn Mặt Của Chúng Ta (1965).. Phê bình thơ Thế Viên, nhà biên khảo Uyên Thao trong tác phẩm 'Thơ Việt Hiện Đại' đã gọi Thế Viên là thi sĩ trữ tình trong thời hậu chiến nhưng lại ảnh hưởng nặng bởi Xuân Diệu và Huy Cận, cho nên đôi lúc lạc lõng giữa thi ca mới vì quá gò bó công thức, sáo ngữ. Do đó, thơ Thế Viên chưa đi sâu vào cuộc tình yêu thương lãng mạn, sống vội yêu cuồng của lớp thế hệ thanh niên nam nữ trong thời chiến tranh lửa loạn. Tuy là một thi sĩ nổi tiếng nhưng suốt thời gian dạy Phan Bội Châu, thầy không để lộ thân phận của mình, dẫu vậy học sinh nhìn qua phong cách nghệ sĩ cũng đoán được thầy là nhân vật khác đời.
Cũng không thể không nhắc tới thầy Vĩnh Giên, vì ngoài việc dạy Sử Địa, thầy còn phụ trách môn Hoạt Động Thanh Niên và Thể Thao Thể Dục. Nhờ tài hoạt động của thầy, mà qua bao niên học, năm nào trường cũng tổ chức cắm trại lúc xa lúc gần vào các dịp hè hay Tết Nguyên Đán. Trại xa nhất là Núi Cú, Nước nhĩ Thiện Nghiệp, còn gần hơn là Lầu ông Hoàng, Phú Lâm, Phú Hội hay ngay trên sân banh của trường. Trong tất cả những lần cắm trại, kỷ niệm nhất có lẽ là lần đi núi Cú vào những ngày sắp Tết. Phan Thiết cuối đông trời luôn se sắt lạnh, nhất là vùng núi cao sát biển. Chùa Cú, núi Cú đối với đầu óc non nớt của học trò lúc đó là chốn thiêng liêng bí mật. Bởi vậy trước khi lên đường, mẹ và các chị căn dặn nhiều lần là leo núi, lên chùa chớ có dại dột phá phách hay ăn nói vô lể, nếu không sẽ bị mãng xà vương hay chuá sơn lâm trừng phạt. Bởi mang ấn tượng đó, cho nên trên đường xuyên rừng leo núi, cả bọn lúc nào cũng nơm nớp lo sợ, dù đang đi giữa đàn người đông đảo, cười nói như xé nát núi rừng.
Rồi những mùa hạ mùa đông chợt tới, hằng năm học sinh các lớp thi nhau làm giai phẩm, báo tường, báo Tết. Có lúc cả bọn trai gái kéo nhau đi trong mưa trên đường từ trường về tới nhà của trưởng ban văn nghệ, để hội họp viết bài. Mưa chiều thật lạnh, nhưng được đi bên nhau cũng cảm thấy ấm lòng.
Mùa thi cử lại tới. Bắt đầu niên khóa 1959, Phan Thiết đã có hội đồng thi Trung Học Đệ Nhất Cấp. Dạo đó mùa thi cử đã khiến cho đêm Phan Thiết trở nên hoạt động rộn ràng. Do tình hình an ninh tại điạ phương thật khả quan, nên hầu hết nam sinh đều túa ra đường để học thi. Phường phố Phan thiết sau 10 giờ đêm đã bắt đầu thưa vắng. Những hàng vông gốc bàng trong vườn hoa lớn và tất cả hàng cây phượng vỹ dọc theo đường Nguyễn Hoàng, Hải Thượng, Đề Thám.. cũng bất động trầm ngâm. Dòng sông Mường Mán từ trên cầu giữa nhìn lên, nhìn xuống chỉ còn là một vệt đen im lìm xuôi chảy, thỉnh thoảng mới có một vài bóng đèn leo lét trên các thuyền chài từ bến ra khơi, làm khuấy mặt nước đang ngái ngủ giữa đêm trường.
Mùa thi, ban đêm là thế giới riêng của bọn học trò. Thật vậy hầu hết các nơi chốn công cộng như Đài Chiến Sĩ, các vườn hoa kế nhà ga xe lửa, vườn hoa lớn nhưng đông đảo nhất vẫn là vườn hoa Độc Lập trước nhà sách Vui Vui, các hàng ghế đá hầu như đều bị học sinh chiếm lĩnh. Từng lớp, từng nhóm, học hành bàn cãi sôi nỏi về đủ mọi vấn đề. Cảnh Sát, lính Địa Phương Quân và dân chúng đi đêm, nhìn thấy đều mĩm cười với sự bao dung độ lượng và thán phục. Thông thường học bài thi từ nửa đêm cho tới lúc trời bắt đầu hừng sáng, lúc mà những chiếc xe ngựa, xe lam chở hàng từ mấy cửa ô vào chợ, băng qua hai cây cầu gổ bắc ngang sông, gây tiếng lốc cốc lạch cạch của vó ngựa và bánh xe lăn. Nhưng kỷ niệm nhất vẫn là tiếng rao hàng lãnh lót của bà béo bán xôi trước tiệm nước Hòa Nguyên đầu đường Đinh Tiên Hoàng.. hay mùi thơm ngát của bánh mì nóng tỏa ra từ các lò bánh mì, cũng là lúc bọn học trò học thi tan hàng về nhà ngủ.
Suốt thời gian học, năm nào cũng vậy, ngồi trong lớp học hay đi dọc theo con đường Nguyễn Hoàng bất chợt nhìn thấy hoa phượng chúm chím nở hoa, là lòng lại bồi hồi xúc động và vui đến rớm lệ khi giờ cuối cùng đã hết, học trò lớn nhỏ ai cũng nhắp nhỏm chờ lên tàu, để trở về quê có thầy mẹ đợi em trông, trên đường làng huyết phượng nở thành bông và vườn rộng nhiều trái cây ngon ngọt, như Xuân Tâm đã viết trong bài thơ 'nghỉ hè'. Thật tình mà viết trong những lần Hè của tuổi thơ, tôi rất ganh tỵ với bạn bè vì là dân Phan Thiết, nên đâu được lên ghe, lên tàu để về nghỉ Hè tại các làng quê xa xâm êm đềm mãi tận Long Hương, Phan Rí, Mũi Né, LaGi hay ngoài Phú Quý. Nhưng tuổi thơ vốn ồn ào, buồn đó vui đó trong sự mong đợi rộn ràng qua những kỳ nghỉ Hè, nghỉ Tết, lên lớp, thi đổ để bước vào đời:
' kiểm soát kỹ có khi còn thiếu sót,
rương chật rồi khó nhốt cả niềm riêng..'
Đó là tâm trạng buồn rầu qua những buổi học cuối cùng của đám học trò lớn đã đến giờ phải bỏ trường, lớp, thầy cô cả người tình để mà đi. Mùa Hè đã không còn êm ả và huyên náo như buổi nào, khi mà con tàu tuổi thơ của bọn học trò nhỏ có đi và có trở lại cổng trường. Lần này thì khác hẳn, vì những muà Hè vui vẽ đã ngoa ngoắt quay lưng một cách tàn nhẩn, chạy tít tắp mù khơi vào cảnh xanh lơ quá khứ, mặc cho tên học trò mới hôm qua còn thân thuộc, thì nay bỗng thấy mình sao quá lạ xa, đứng giữa sân lòng một mùa Hè tê tái, ngỡ ngàng. Vâng, đó là những ngày Hạ năm 1962, với những nỗi buồn trong buổi học cuối cùng. Rồi mai dấn thân vào đời mù tăm sương khói, định mệnh, chiến chinh, có mấy ai dám hẹn buổi tao phùng"
Tỉnh lẻ đêm cuối cùng thật buồn, một mình trở lại trường cũ, đi trên những con đường xưa để tạ từ lần cuối cùng như thu vén vào hành trang kỷ niệm học trò. Bỗng nghe như từ cõi mù sương nào đó, vọng lại một tiếng thở dài. Thôi quan hà xin cạn chén, từ đây ta là chiếc én lẻ bầy, nẽo đời đã mở ra trước mắt, không mộng mơ như trong trang sách, mà là cả một thành sầu đợi đón khách sông hồ.
1952-2002, trường chẵn 50 tuổi, nếu tính theo đời người đó là con số ngũ thập chi bất hoặc, nhưng đối với ngôi trường Phan Bội Châu lại là một chuổi dài lịch sử. Nhưng dù gì chăng nửa thì lịch sử cũng vẫn là sự thật, đã bị khép lại từ cuối tháng 4-1975. Trong đó có những điều không ai có thể phủ nhận, là qua thời gian tuy ngắn ngũi nhưng trường cũng đã đào tạo nhiều thế hệ học sinh góp phần gìn giữ và xây dựng đất nước. Ngày nay học sinh Phan Bội Châu trên vạn nẻo đường viễn xứ, nhiều người thành danh làm rạng rở Phan Thiết, Bình Thuận. Năm 2002, cả Phan Thiết lẫn Miền Nam California, Hoa Kỳ, đều có tổ chức Ngày Hội Ngộ thân thương, giữa các thầy cô và nhiều thế hệ Phan Bội Châu. Không biết khi chia tay rồi, có ai còn hận thù ai nữa, vì tất cả đều là Phan Thiết, là học trò của thầy này cô nọ, là niên trưởng hay đàn em,lúc đó hình như đã cùng ôm lấy nhau òa khóc trong nỗi sung sướng tao phùng.
Nhưng thôi ước mơ càng thêm xa sót. Tôi đứa học trò cũ năm nào, dù không công thành danh toại, vẫn có quyền tự hào như tất cả bạn bè rằng chúng ta là học sinh trường Trung Học Phan Bội Châu. Sau rốt, xin chân thành cảm ơn ngôi trường đã cho tôi những ngày đáng sống. Xin cám ơn thầy cô đã dạy cho chúng tôi biết nhớ, biết đến tình người và trên hết là biết tin tưởng vào một tương lai dời đổi rất gần. Ngày mai ta lại về.
Xóm Cồn
Tháng 12-7-2005
MƯỜNG GIANG
Kính tặng Quý Ân Sư và Bạn Bè -- Riêng Mai Minh, Trầm Kha và Nguyễn Minh Đức.
Năm 1991 về thăm lại quê hương Phan Thiết, cái địa danh mà trong suốt ba chục năm chinh chiến luôn, được la làng là thành đồng xã nghĩa, là hậu phương lớn trong hai cuộc chiến tranh chống ngoại xâm, tóm lại phải được tưởng thưởng. Nhưng hởi ơi, tất cả đã trái ngược hoàn toàn cho tới khi đảng đổi mới để cứu nước. Thành ra Bình Thuận, Phan Thiết hầu như đã không còn bạn bè, phố xá, không còn hơi thở và sinh khí của một miền quê hương biển mặn thân thương, đã được tổ tiên xây dựng suốt ba trăm năm qua, bằng máu và nước mắt. Những con đường mơ mộng rợp dưới nắng hoa buổi trước, mang tên những anh hùng, liệt nữ như Nguyễn Hoàng, Lương ngọc Quyến, Trần Cao Vân, Trần quý Cáp, Huyền Trân Công Chúa.. cũng theo giông bão Truờng Sơn mà tan biến trong cõi muôn trùng.
Hai mươi năm quốc cộng chinh chiến triền miên, chẳng những gây nên cảnh nồi da xáo thịt, mà còn tạo nên cảnh đối đầu bi thảm về ý thức hệ, rồi còn chịu thêm nỗi trăn trở của cơn sốt chính trị do bọn loạn tướng, kiêu tăng gây ra, xô đẩy nhiều mái đầu xanh vô tội vào ngỏ cụt, làm tổn thương đến những mái trường thân yêu tại Phan Thiết, khi bị mang tiếng tiếp tay với giặc, phá nát Phan Thành.
Theo tài liệu hiện hành, tính đến năm 2005, trường Trung Học Công Lập Phan Bội Châu, tọa lạc tại đường Nguyễn Hoàng, thành phố Phan Thiết, được công nhận là một trong sáu trường trường trung học công lập phổ thông nổi tiếng nhất trong nước về mọi phương diện, từ trường ốc, việc giãng dạy và trên hết là số học sinh tốt nghiệp bậc trung học , trong đó có nhiều người tài giỏi, đạo đức và thành công lớn khi bước vào đời. Hiệu Trưởng hiện nay là Hoàng công Bình, cũng là một cựu học sinh của trường, niên khoá 1955-1963. Sau ngày 30-4-1975, có nhiều nam nữ giáo sư cũng như cựu học sinh của trường định cư khắp nơi trên thế giới. Tính đến tháng 3-2002 có hơn 50 cựu giáo sư và trên 400 học sinh từ niên khoá 1952 (Trần Thiện Hiệp, Nguyễn Đình Duật) tới niên khoá 2000 (Từ Tâm). Nhắc tới trường Phan Bội Châu, ngoài việc tìm hiểu quá trình hoạt động, những thăng trầm kỷ niệm, cũng không thể nào không nhắc tới những cựu học sinh đã hy sinh cho tổ quốc trong cuộc chiến vừa qua, trên một trang danh sách dài thườn thuợt, mà người nằm xuống đầu tiên là Lê văn Quế và kẻ cuối cùng là Trần thiện Khải. Một hãnh diện lớn lao khác là sự thành danh của các học sinh Phan Bội Châu khi bước vào đời. Họ là những giáo sư trung, đại học, những bác sĩ, kỹ sư, dược nha sĩ, những ca nhạc sĩ nổi danh, những nhà văn nhà báo can trường, những cấp chỉ huy trong quân lực cũng như hành chánh của Việt Nam Cộng Hòa. Tất cả đều là những nụ hồng, mang hương sắc tuyệt diệu cho các thế hệ Phan Bội Châu hôm qua, hôm nay và mãi mãi như tên tuổi của vị anh hùng cách mạng dân tộc Phan Bội Châu, mà trường được vinh hạnh có được.
Từ sĩ số 110 học sinh của hai lớp đệ thất đầu tiên năm 1952, trường đã tăng lên 10 lớp với sĩ số 540 học sinh niên khoá 1956-1957, khi trường đã chính thức dời về ngôi trường mới tại đường Nguyễn Hoàng, trên khu đất của bà Hồ thị Liệt bán cho chính phủ Việt Nam Cộng Hòa vơí một giá rẽ đặc biệt gần như cho không. Cũng trong năm 1956, các học sinh lớp lớn, nhập học từ niên khoá 1952, trong số này hiện còn nhiều người đang ở trong nước cũng như hải ngoại như Trần thiện Hiệp, Pham quang Giai, Trương văn Trọng, Nguyễn đình Tứ, Nguyễn đình Duật, Lê thị Hồ, Võ thị Diệp, Võ đăng Sâm.. lại phải ra đi vì trường không có lớp đệ tứ niên. Từ đó, trường càng lúc càng tăng trưởng về mọi mặt, tới niên khoá 1970-1971 đã có tới 50 lớp vừa đệ nhất và đệ nhị cấp với 2681 học sinh và niên khóa cuối cùng 1974-1975, trường có 72 lớp đệ nhất cấp với 4092 học sinh và 25 lớp đệ nhị cấp có 1337 học sinh, đủ các ban A, B và C, D.
Từ tháng 5-1975 cho tới năm 1993, trường Phan Bội Châu chỉ mở những lớp đệ nhị cấp. Từ niên khóa 1994 trở về sau, trường Phan Bội Châu lại bao gồm các lớp đệ nhất và đệ nhị cấp như cũ, do đó học sinh tăng rất cao. Niên khoá 1995-1996, trường có 73 lớp các cấp với 3412 học sinh, niên khoá 1996-1997 có 80 lớp với 3954 học sinh, niên khóa 1997-1998 có 94 lớp với 4457 học sinh, niên khoá 1999-2000 có 96 lớp với 4475 học sinh, niên khoá 2000-2001 có 97 lớp với 4495 học sinh và niên khoá 2001-2002 có 104 lớp với 4953 học sinh.
Nửa thế kỷ thoáng chốc đã trôi qua vật vờ như mây nổi cuối trời, các vị ân sư và học sinh Phan Bội Châu cũng theo kiếp đời nổi trôi tận tuyệt.
Quê người đã sắp vào thu. Ở đây suốt ngày trời buồn u ám và cây lá cũng xơ xác vì những trận gió biển loạn cuồng. Thời tiết đổi thay, khiến ta bâng khuâng chạnh nhớ tới muà thu năm xưa ở quê nhà. Phan Thiết mỗi độ vào thu, trời hình như không thấy mây trôi bàng bạc và lá cũng chẳng vàng rơi, mà chỉ có những cơn mưa phùn bất chợt. Cùng em đi trong mưa bụi, ta cứ tưởng như đang đi trong mơ, đã khiến cho nhiều buổi tựu trường ở Phan Thiết, thành những ngày ướt lạnh run và những bài thơ yêu cũng theo từng giọt mưa trắng, nở rộ trong mãnh vườn hồn.
Quá khứ từ lâu ẩn ức đâu đây, bỗng dưng cũng cuồn cuộn theo mùa thu trở về. Ngoài khung cửa hẹp, lao xao vang vọng những tiếng cười, nói, hí hửng vô tư của lũ học trò nhỏ đang trên đường tới lớp, như tiếng đàn chim non ríu tít cất lên, ngợi ca ngày học mới. Âm thanh diễm tuyệt, lại dắt ta dò dẫm trở về khung trời xa cũ với hình ảnh quê hương, trường lớp, những thầy cô thân thương và đám bạn bè tinh quái của một thời tuổi học. Nhưng hởi ôi tất cả rồi ra cũng chỉ là ảo vọng, là cố nhân và có còn chăng cũng chỉ là sự tưởng tiếc bâng quơ cùng mớ kỷ niệm rời rạc núp lén đâu đó trong kiếp sống lang thang, trên từng trang sách cũ lạnh lùng hay thỉnh thoảng vật vờ vẫy gọi tự cõi xa mù.
Ngày xưa rất thích, nên mấy chục năm qua vẫn còn thuộc lòng bài 'tôi đi học' của Thanh Tịnh, vì lời văn trong sáng và quá cảm động, dù nội dung chỉ là lời tự sự của một cậu bé nhà quê, ghi lại cảm giác của mình trong buổi học đầu đời ở trường làng. Hồi ức của Thanh Tịnh như còn nguyên nếp, không hề sờn phai vì ông viết khi rời trường mẹ để bước vào đời. Nhưng nhức nhối và làm ta nhói đau hơn khi đọc tác phẩm của nhà văn Pháp Anatole France. Đây mới chính là tâm sự của một tên học trò đã xa xóm học mấy chục năm dài mà không một lần được ghé về thăm. Đến nay tuổi đời chồng chất, ký ức nhạt nhòa, mới chợt nhớ về trường xưa qua ảnh hình mông lung vay mượn. Dù sao chăng nữa, Thanh Tịnh hay Anatole cũng còn có diễm phúc trong lúc tuổi già, để ngồi quan sát bọn học trò nhỏ hằng ngày, rồi hoài niệm trút cạn tim óc, tạo thành đoản văn bất hủ: 'La rentré des classes', trong tác phẩm 'Le Livre De Mon Ami'.. tôi kể cho các bạn nghe những điều đã cho tôi nhớ lại mỗi năm cảnh trời thu mây nổi và những điều trông thấy, khi tôi đi ngang qua vườn Luxembourg vào những ngày đầu tháng mười. Ấy là hình ảnh một cậu bé, hai tay bỏ vào túi, cặp sách quàng lưng, tung tăng nhảy nhót đến trường. Theo dấu chân chim của Anatole, tôi cũng quay về trường xưa lớp cũ, để thu vén đâu đó trong khung cảnh miên man, những kỷ niệm còn sót lại của một thời dấu ái, dưới mái trường TRUNG HỌC PHAN BỘI CHÂU PHAN THIẾT.
Trước tháng 4-1975, thi đổ vào trường Phan Bội Châu là một niềm hãnh diện cũng như mơ ước lớn của học sinh Bình Thuận. Theo kỷ yếu thì trường chào đời vào năm 1952 và năm nay đúng 50 tuổi. Tuy thời gian hiện hữu so với các ngôi trường khác trong nước như Thăng Long, Bưởi, Quốc Học, Cường Để , Petrus Ký, Nguyễn đình Chiểu.. không là bao nhưng trường đã đào tạo rất nhiều thế hệ thành danh và nổi tiếng, với truyền thống tốt đẹp về các phương diện kiến thức, đạo đức, sự tôn sư trọng đạo và ý thức về nhân cách, tình người. Viết về ngôi trường thân thiết của mình, xưa nay đã có nhiều người nói tới với các cảm nghĩ khác nhau. Một số thầy cô thì nói về sinh hoạt và thành quả của trường trong lúc quý vị thi hành bổn phận thiêng liêng. Với các niên trưởng, đàn anh, những người lớn tuổi, được sống và chứng kiến cảnh hổn độn của thời cuộc, họ bày tỏ nhân sinh quan của mình trước biến cố. Riêng chúng tôi lớp người trên 50 tuổi, dược coi là thế hệ thứ tư (1955), thực ra cũng chỉ là một trong những dòng thác lũ của trường, vỏn vẹn chỉ có bảy năm học ngắn ngủi, nên nay muốn hoài niệm về quá khứ của một thời tuổi thơ hạnh phúc, cũng thật miên man vì hành trang khi bước vào đời, cũng chỉ đủ chất trong chiếc ba lô kỷ niệm mà thôi.
Sao có thể quên được những năm tháng êm đềm, mơ mộng dưới mái trường yêu"
Xin hãy ngồi xuống đây hởi quý thầy cô và đám bạn bè còn sót lại qua cuộc đổi đời bi thiết, để cùng gục đầu moi tim nhớ tới đâu đó những hình bóng thân thương, dù hiện tại chúng ta cách xa quê hương muôn trùng. Nhung nhớ, vấn vương,' lối xưa xe ngựa hồn thu thảo, nền cũ lâu đài bóng tịch dương ', chẳng qua cũng chỉ là những đám mây lờ lững, ngọn heo may se sắt và sương khói hoàng hôn vào buổi thu tàn. Nhưng dù thế nào chăng nữa, bao chục năm qua xa cách, trong tôi cũng như bạn bè ngày cũ, được nếp mình dưới mái trường xưa, miên viễn cũng vẫn là một thời thơ ấu, làm đôi lúc giữa tuổi già cằn cỗi của một kiếp người, bất chợt cảm động muốn khóc, khi men theo ngỏ khuất trong trái tim ta, đứng dáo dát tìm về các con đường rợp hoa phượng vỹ, báo hiệu niên học đã hết. Hăm hở đến nghẹn ngào khi bước chân lên con tàu của cuộc đời, mà năm tháng vẫn không nhạt nhòa kỷ niệm. Sau rốt nhắc tơí ngôi trường cũ, với tôi thì các thế hệ đàn anh, bạn hữu kể cả lớp sau.. vẫn luôn là những tấm gương sáng, đầy sự ngưỡng mộ, trang trọng đã theo tôi suốt cuộc hành trình cô lẽ. Và như thế tôi viết về trường Phan Bội Châu, như viết những dòng tâm sự của một tên học trò nhỏ năm nào, đồng thời cũng để thổ lộ tình yêu chân thành đối với cố nhân. Cuối cùng chắc chắn ai cũng phải đồng ý, dù đứng trên quan điểm hay ý thức hệ gì, thì cũng phải công nhận trước ngày 30-4-1975, Phan Bội Châu là một trong những trường công lập nổi tiếng nhất của Việt Nam Cộng Hòa, vì ngôi trường đẹp đẽ khang trang, hằng năm luôn có tỷ số dẫn đầu toàn quốc về học sinh thi đổ trong các kỳ thi Trung Học và Tú Tài cũng như thi tuyển vào các trường Cao Đẳng và Đại Học chuyên nghiệp. Hầu hết các vị hiệu trưởng và giáo sư rất tận tâm và có nhân cách. Nhờ thế học sinh được dạy dỗ chu đáo, không tham gia bừa bãi các cuộc nổi loạn tại địa phương, dưới mọi hình thức trá hình mà ngày nay Cộïng Sản đã xác nhận là do mình điều khiển.
Nhắc tới trường, ngày nay ai cũng hãnh diện lây về thành tích học giõi của Ung văn Đức, Nguyễn văn Tài, Nguyễn văn Thắng, Trần đình Thọ, Ngô hoàng Các, Thân trọng Nguyên, Phan hoàng Đồng.. Sau cuộc đổi đời, học sinh Phan Bội Châu hiện diện khắp nơi trên thế giới với sự thành công vượt bực của nhiều kỹ sư như Nguyễn văn Hưng, Nguyễn văn Sáng, Nguyễn minh Tạo, Tiếp sĩ Trường, Mạc Sum, Lê Tiếng, sánh vai với các bác sĩ, nha, dược sỉ như Phạm Văn Ngà, Bùi hữu Hồng, Châu thị Hoa, Nguyễn thị Kim Cúc, cùng nhiều giáo sư tiến sĩ đang giãng dạy tại các trường Đại Học Hoa Kỳ. Bên cạnh có nhiều nhà văn, thi sĩ, nhà báo, nhạc sĩ, ca sĩ như Hải Triều, Phan Thiết Phạm Đình Thừa, Mai Minh, Quãng Ngôn, Nhật Nguyễn, Mỹ Khê, Trần vấn Lệ, Trần thiện Hiệp, Phạm văn Nhàn, Cát Biển Nguyễn Văn Sáng, Anh Vũ Võ Đình Dược, Võ Thị Điềm Đạm,Lê Văn Thắng, Nguyễn lương Chỉ, Nhật Trường, Anh Khoa, Từ thế Mộng, Dũng Chinh.. cùng nhiều sĩ quan, công chức cao cấp trong chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Nhiều người đã trở nên bất tử trong tâm khảm cựu học sinh Phan Bội Châu như Huỳnh ngọc Ghênh, Lê văn Quế, Lương Cảnh Hùng, Trần thiện Khải.. vì đã hy sinh cho đại nghĩa dân tộc.
Theo sử liệu, năm 1950 Quốc Trưởng Bảo Đại ban huấn dụ thành lập các trường Trung Học trên toàn quốc. Tại Trung Việt, Thủ Hiến Phan văn Giáo cho phép mở trường Trung Học Công Lập tại thị xã Phan Thiết. Tỉnh Trưởng Bình Thuận lúc đó là Nguyễn văn Trác với ngân sách eo hẹp của địa phương, chỉ cho khai giảng niên học đầu tiên vỏn vẹn hai lớp đệ thất với 110 học sinh nam nữ. Vì trường chỉ có tên trên giấy tờ, nên tất cả gần như số không từ giáo sư cho tới trường ốc và ban giám hiệu. Trên đoạn đường lao đao lận đận này, hai lớp đàn anh đàn chị này phải đến tá túc tại trường tiểu học Đức Thắng. Niên học kế 1952-1953 trường lại thêm hai lớp nữa, tất cả bốn lớp thất, lục đều học ké ở trường Đức Thắng và Nam Tiểu Học Phan Thiết.
Qua lời kể của các đàn anh, đàn chị lúc đó như Nguyễn đình Tứ, Lê thị Hồ, Phạm quang Giai, Trương văn Trọng, Võ thị Diệp, Phạm thành Thông.. thì học sinh các lớp đầu rất lộn xộn vì gồm nhiều lứa tuổi khác nhau, có khi chênh lệch rất xa. Đây cũng do hậu quả của chiến tranh. Thông cảm hoàn cảnh khó khăn trên, hiệu trưởng lúc đó là Nguyễn văn Trác, đã cho phép học sinh có gì mặc nấy. Thành ra các học sinh gốc nhà quê hay xóm biển, đi học Trung Học với đầu trần chân đất hay khá hơn thì diện bộ bà ba trắng với đôi guốc gỗ cộc cạch.
Niên khoá 1954-1955, trường lại mở thêm hai lóp mới, nâng lên tổng số sáu lớp (2 thất, 2 lục và 2 ngũ). Lúc này tỉnh đã mướn căn lầu của Hảng nước mắm Hồâng Hưng, tại đường Trần Hưng Đạo làm phòng ốc và trường Trung Học Bình Thuận cũng được đổi tên là trường Phan Bội Châu từ đó. Giáo Sư Nguyễn xuân Tịnh được bổ nhiệm Hiệu Trưởng thay thế Giáo Sư Trần hữu Lượng và Giáo Sư Võ văn Thủy. Lúc này, học sinh tạm thời đi vào nề nếp, mặc đồng phục. Trong năm 1955, ngôi trường mới được xây cất tại đường Nguyễn Hoàng, Giáo Sư Lê Tá từ Nha Trang về thay thế Giáo Sư Nguyễn xuân Tịnh.
Năm 1955 cũng là một niên lịch quan trọng trong dòng việt sử cận đại. Ngày 23-10-1955 là cuộc trưng cầu dân ý, hoan hô đã đảo. Ngày 26-10-1955 Tổng Thống Ngô Đình Diệm tuyên bố thành lập nước Việt Nam Cộng Hòa, chạy từ vĩ tuyến 17 vào tới mũi Cà Mâu, theo tinh thần hiệp định Genève 1954. Đất nuớc chính thức chia đôi từ đó nhưng nhức nhối đau khổ vẫn là sự chia rẽ ý thức hệ trong tâm tư của học sinh, mới ngày nào còn ngồi chung dưới mái trường yêu.Sau đó trở mặt quay lưng rồi cấu xé lẫn nhau, còn ghê gớm hơn kẻ thù ngoại xâm:
'ta với em thuở xưa cùng trường lớp,
chung cô thầy , học đạo nghĩa văn chương
nhưng ý thức thì phân rẽ đôi đường
khiến bè bạn thành người dưng, kẻ lạ..'
Cũng trong năm 1955, một biến cố cực kỳ quan trọng đã đến với học sinh Phan Bội Châu, cũng may Tỉnh Trưởng Thái quang Hoàng đã kịp thời giãi quyết tốt đẹp, nếu không hậu quả chẳng biết đâu mà lường. Đêm đó (23-10-1955), học sinh Phan Thiết được lệnh đốt đuốc đi diễn hành. Trong đoàn, ngoài học sinh các trường Bạch Vân, Tiến Đưc, Bồ Đề.. thì học sinh Phan bội Châu là đông nhất (12 lớp). Chương trình được kết thúc bằng màn trình diễn văn nghệ ngoài trời tại nhà hòa nhạc lục giác, bên trong vườn hoa lớn Phan Thiết bên kia sông. Để làm giới hạn cho sân khấu, ban tổ chức dùng một đường dây neo lớn bao quanh làm hàng rào và do toán lính bảo an của Thiếu uý Nguyễn văn Châu, tục danh "Châu bụng bự", trưởng Quân Vụ Thị Trấn , phụ trách an ninh. Vì số học sinh quá đông, lại thiếu tổ chức, nên mạnh ai nấy đều cố chen lấn để được đứng gần sân khấu, vì vậy phía sau đùn phiá trước và cuối cùng vượt vòng dây giới hạn. Thay vì dùng loa phóng thanh kêu gọi học sinh giữ trật tự hay cố gắng sắp xếp hàng ngủ tại hiện trường, Thiếu úy Châu lại ra lệnh cho lính dùng đuốc mở rộng vòng đai. Kết quả nhiều học sinh nhỏ đứng đầu bị phỏng nặng vì không thể lùi nổi ra phiá sau với rừng người đang bịt kín. Tức giận trước hành động quân phiệt trên, một số học sinh đàn anh của Phan Bội Châu phản đối. Như lửa đổ thêm dầu khi "Châu bụng bự" ra lệnh cho lính đánh học trò, thế là cuộc ẩu đả bắt đầu, đêm văn nghệ tan rã. Một số học sinh bị bắt về nhốt tại Quân Trấn với tội danh phá rối trị an. Các trường Trung Học tại thị xã cũng bị đóng cửa với lý do làm loạn. Do sự chống đối của thân hào nhân sĩ và phụ huynh học sinh, nên vài ngày sau trường mở cửa trở lại, Thiếu úy Châu bị thuyên chuyển đi nơi khác. Việc học hành lại tiếp tục bình thường nhưng các học sinh có tên trong bảng đen thì học bổng bị cúp. Hành động trên vô tình giúp cho giặc, lôi kéo thêm một số học sinh đang phân vân trước thời cuộc, càng tới gần bờ vực thẳm của sự tuyên truyền, làm mất mát một phần tài năng của quốc gia sau này. Cũng may tệ trạng này tại Phan Thiết đã sớm chấm dứt thời gian ngăn sau đó.
Năm 1956 trường chính thức dời về địa điểm mới đường Nguyễn Hoàng gần chợ phuờng Phú Trinh. Cũng kể từ đó, con đường trên trở thành con đường huyền thoại của Phan Thiết, sáng sáng chiều chiều đón đứa vẫy gọi những tà áo trinh nguyên, trên đường vào lớp hay trở về. Hai bên đường có nhiều hoa phượng vỹ, hàng nối hàng tiếp nối, từ đầu cầu sông Mường Mán cho tới tận cổng trường. Những ngày sắp vào hạ, áo trắng học sinh đi giữa rừng hoa phượng đỏ, xác hoa rơi đầy trên tóc, nở rộ trong mắt và mềm giữa những trang lưu bút rất tình. Năm 1956 cũng là cái mốc phân ly đầu tiên của trường vì các lớp đàn anh phải đi Nha Trang hay Sài Gòn dự thi Trung Học Đệ Nhất Cấp và không trở lại vì Phan Bội Châu không có đệ tam và hội đồng thi. Còn gì buồn hơn cảnh chia tay và nổi ấm ức đối với các niên trưởng cũng mang tiếng là Phan Bội Châu nhưng chưa hề bước vào trường lớp mới lần nào.
Cũng kể từ đó, học sinh Phan Bội Châu mất vui vì kỷ luật đã khép chặt. Đây cũng là kỷ nguyên đuổi học và phạt cấm túc. Nhờ thế học sinh nam nữ của trường đều trở nên hiền ngoan, vì ai cũng sợ bị đuổi ra khỏi trường.
Bắt đầu niên khoá 1957-1958, đã phân ban Anh, Pháp. Riêng Hán văn mỗi tuần có một giờ học trong môn Việt văn. Các lớp từ đó cũng pha trộn nam nữ học chung, làm sinh hoạt xáo trộn vì ai cũng phải chưng diện, chải chuốc và ráng chăm học, may ra lọt được vào mắt xanh của người mình mơ mộng. Thời gian này, trường tương đối đầy đủ với các tiện nghi, phòng học khang trang trong dãy nhà lầu hai tầng. Ngoài ra còn có phòng nhạc, phòng thí nghiệm, văn phòng nhà trường, văn phòng ban Giám Hiệu, tư thất Hiệu Trưởng, sân túc cầu, bóng chuyền, bóng rổ.. Hai phòng học mới xây trệt nằm cạnh phòng nhạc cũng sắp hoàn thành và dự án dãy lầu mới phiá sau cũng sắp được thực hiện vì bắt đầu niên khoá 1961 trường mở đệ nhị cấp với đầy đủ các ban A,B,C và D.
Vào học Phan Bội Châu ngoài việc khỏi đóng học phí như các trường tư thục Chánh Tâm (Ngô Đình Khôi), Bồ Đề, Bạch Vân, Tiến Đức hay bán công Phan Chu Trinh, còn có cái vinh hạnh đứng chung trong một đoàn thể đông đảo và quan trọng nhất thị xã Phan Thiết. Thật vậy học sinh Phan Bội Châu luôn dẫn đầu trong các cuộc diễn hành khắp phố phường thị xã khi có lễ hội. Các đội tuyển túc cầu, bóng chuyền, bóng rổ của trường có tài nghệ ngang ngửa với đội tuyển của Ty Cảnh Sát Quốc Gia Bình Thuận và trường Hoa Kiến Anh. Thời gian đi học, ai cũng sợ nhất là sáng thứ hai hằng tuần làm lễ chào cờ. Ngoài việc quần áo phải chỉnh tề và đi học sớm hơn thường lệ.. nếu không đúng mốt hay trể giờ, trai gái đều giống nhau, sẽ bị thầy Hiệu Trưởng Lê Tá phạt vì ông ta luôn luôn hiện diện trước cổng trường vào mỗi sáng thứ hai. Sau này qua đời lính, thấy thấm thía về Quốc Kỳ và màu cờ sắc áo mới thương biết bao các buổi lễ chào cờ đầu tuần khi còn học tại trường.
Thập niên 90 quay về nương đất cũ, thăm lại cố hương Phan Thiết, quê nhà đã như thay đổi hết, không còn bạn bè, không còn người cũ ngay tới cái tên đường Nguyễn Hoàng cũng theo dâu bể và khỉ vượïn rừng xanh mà tan biến vào cát bụi thời gian. Không còn gì cả khi thăm lại ngôi trường thân yêu ngày cũ. Gốc phượng già trước trường thêm cô đơn cằn cổi hơn và dường như cũng theo người, theo đời mà buồn rầu thê thiết. Nhìn cảnh tiêu sơ hoang phế của mãnh đất thân yêu mà ngậm ngùi chua xót về bàn tay tàn phá của giặc, về nỗi mất tên của con đường huyền thoại, và thương tiếc cho công trình xây dựng , tô điểm làm cho ngôi trường càng ngày càng tốt đẹp của các vị Hiệu Trưởng từ năm 1955-1975 như Thầy Lê Tá (1956-1963), Thầy Nguyễn đức Hiển và Thầy Đào Trứ (1963-1966), Thầy Nguyễn tiến Thành (1966-1968), Thầy Nguyễn thanh Tùng (1968-1973) và Thầy Lê khắc Anh Vũ (1973 tới 19-4-1975).
Trong suốt bảy năm học, danh sách các vị ân sư càng lúc càng dài qua từng lớp, từng niên khoá và theo tuổi đời, tình cảm thêm gắn bó kính phục. Như có những giọt nước mắt chân thành rơi xuống từng trang giấy, khi chạnh lòng hồi tưởng tháng ngày qua, giờ thầy cô ai còn ai mất" ai đã bị vùi dập trong lớp sóng phế hưng loạn cuồng, như thân phận của những học trò Phan Bội Châu, qua các thế hệ trước năm 1975. Tôi nhớ các cô Xuân Anh, Huỳnh Yến, Vũ Bột.. những hoa ngọc lan hương sắc đầu tiên của trường, một thời đã dẫn hồn tôi vào lớp học, bàn tay tuy ấp trên sách mà tim bâng khuân. Tôi thương các thầy Long, Tuệ, Ru, Chương, Tiến Thành, Khắc Mão, Bá Đợi, Phụng Tường, Chung, Mậu.. đã dạy dỗ chu đáo, làm cho tôi hiểu biết tường tận, có kiến thức và đạo đức để làm hành trang sau này ngất ngưởng bước vào đại học và cửa đời. Tôi thích các thầy Phan xuân Hường, Nguyễn kỳ Tâm, Vĩnh Giên.. mỗi người một vẽ, tài hoa vẹn vầy nhưng tất cả cũng chỉ có mục đích đưa học trò mình thành kẻ hữu dụng sau này. Sau rốt tôi mê các thầy Vũ Trang, Thế Viên và Hữu Huân, những Giáo Sư Việt Văn, môn học mà tôi ưa thích nhất. Các vị ân sư đã khai tâm và dẫn dắt tôi vào thế giới đam mê của thi ca, kéo tôi càng lúc càng rời xa cuộc đời thơ ngây học trò, càng lúc như muốn cất cánh bay vút vào khung trời sầu thảm không đáy của hệ lụy tình si.
Thật vậy ở tuổi đời 15, 16 tôi biết gì về tình yêu trai gái" Cho dù trong chương trình học có nhiều tiểu thuyết lãng mạng của các nhà văn tiền chiến trong và ngoài Tự Lực Văn Đoàn như Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam, Nguyễn Tuân, Lan Khai, Lê văn Trương, Lưu trọng Lư, Đông Hồ, Hoàng ngọc Phách.. Còn tình yêu trong các tác phẩm cổ điển như Truyện Kiều, Cung Oán, Lục văn Tiên, Bích câu, Nhị độ mai.. thì có gì hấp dẫn" Nhưng từ khi được khai tâm, sân trường bỗng rộn rã tiếng chim hót, tôi thích trở thành đám mây trắng lơ lững bay tìm lá xanh, tôi yêu thơ nhạc càng lúc càng sâu đậm và muốn trốn lánh tất cả những lụy phiền. Cũng kể từ đó tôi là người của mộng, của các nhân vật ảo trong Đời Mưa Gió, Thoát Ly, Hồn Bướm Mơ Tiên, Trống Mái, Nữa Chừng Xuân.. tôi ghê sợ khi ngó tới những định lý, phương trình, lượng giác.. Thế giới của tôi lúc đó là thi ca và con đường trước mặt luôn xôn xao mời gọi kẻ đam mê.
Rồi thì ngay trong lớp học, thầy giảng thầy nghe, tôi với hồn tôi rủ nhau lang thang tìm gió và khi sực tỉnh giấc mơ hoa, cũng là lúc thầy Phan xuân Hường, Giáo Sư Toán Lý Hoá cũng là Giáo Sư hướng dẫn lớp, thay thế ông tơ bà nguyệt, ban cho tôi chuổi vòng ngọc thạch dài trong sổ điểm, phạt cấm túc một tuần lễ liên tiếp tại phòng Tổng Giám Thị để rửa óc, khiến tôi chợt tỉnh cơn mê, vì nếu tái phạm sẽ được lang thang suốt ngày nơi phố chợ.
Công bằng khi gợi nhớ tới những dấu ái ngày xưa, lúc đó phần lớn học sinh đều mết thầy Hồ thế Viên, giáo sư Việt Văn các lớp ngũ tứ. Bấy giờ trong trường có rất nhiều thầy trẻ tuổi, đẹp trai, hào hoa phong nhã như các thầy Mậu dạy vẽ, thầy Tâm dạy toán, các thầy Chung, Giên, Long, Chương, Hường.. nhưng nói tới phong cách nghệ sĩ, thì không thầy nào có thể so sánh và hấp dẫn hơn thầy Viên. Dáng người cao ráo, ăn mặc luôn chải chuốt đúng thời trang, vét, cà vạt, giầy da mũi nhọn, lại thêm giọng Huế trầm bổng khi giảng bài, khiến cho một Kiều nguyệt Nga có thể thành Lý lệ Hoa, một Thúy Kiều trở nên minh tinh Thẩm Thuý Hằng và hơn hết là thầy đã dùng thơ của mình để hướng dẫn bài học. Bởi vậy dù đã qua mấy chục năm trầm kha tận tuyệt, nhưng bốn câu thơ trữ tình diễm tuyệt của chính tâm sự thầy với người yêu, được mượïn để giải thích sự oan trái trong cuộc tình giữa Lục văn Tiên và Kiều nguyệt Nga".
'hôm qua đọc hết bài thơ,
của người xứ Huế tôi ngờ chiêm bao
thì ra vẫn chuyện má đào,
thì ra vẫn chuyện lao đao của tình..'
THẾ VIÊN là tên thật cũng là bút hiệu của nhà thơ Thế Viên, sinh ngày 31-10-1935 tại Huế. Năm 1961 đang dạy học thì bị động viên khoá 14 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. Năm 1966 được giải ngủ về dạy tại trường Nguyễn đình Chiểu Mỹ Tho. Năm 1968 lại bị tái ngủ cho tới năm 1975. Đã cộng tác với nhiều tờ báo tại Sài Gòn như Cải Tạo, Đời Mới, Nguồn Sống Mới, Văn Nghệ Mới, Hiện Đại, Văn Học, Vấn Đề, Văn, Bách Khoa.. có chân trong Trung Tâm Văn Bút Việt Nam. Các thi phẩm đã xuất bản gồm Người Yêu Tôi Khóc (1959), Đau Thương (1960), Nỗi Buồn Của Anh (1961), Khuôn Mặt Của Chúng Ta (1965).. Phê bình thơ Thế Viên, nhà biên khảo Uyên Thao trong tác phẩm 'Thơ Việt Hiện Đại' đã gọi Thế Viên là thi sĩ trữ tình trong thời hậu chiến nhưng lại ảnh hưởng nặng bởi Xuân Diệu và Huy Cận, cho nên đôi lúc lạc lõng giữa thi ca mới vì quá gò bó công thức, sáo ngữ. Do đó, thơ Thế Viên chưa đi sâu vào cuộc tình yêu thương lãng mạn, sống vội yêu cuồng của lớp thế hệ thanh niên nam nữ trong thời chiến tranh lửa loạn. Tuy là một thi sĩ nổi tiếng nhưng suốt thời gian dạy Phan Bội Châu, thầy không để lộ thân phận của mình, dẫu vậy học sinh nhìn qua phong cách nghệ sĩ cũng đoán được thầy là nhân vật khác đời.
Cũng không thể không nhắc tới thầy Vĩnh Giên, vì ngoài việc dạy Sử Địa, thầy còn phụ trách môn Hoạt Động Thanh Niên và Thể Thao Thể Dục. Nhờ tài hoạt động của thầy, mà qua bao niên học, năm nào trường cũng tổ chức cắm trại lúc xa lúc gần vào các dịp hè hay Tết Nguyên Đán. Trại xa nhất là Núi Cú, Nước nhĩ Thiện Nghiệp, còn gần hơn là Lầu ông Hoàng, Phú Lâm, Phú Hội hay ngay trên sân banh của trường. Trong tất cả những lần cắm trại, kỷ niệm nhất có lẽ là lần đi núi Cú vào những ngày sắp Tết. Phan Thiết cuối đông trời luôn se sắt lạnh, nhất là vùng núi cao sát biển. Chùa Cú, núi Cú đối với đầu óc non nớt của học trò lúc đó là chốn thiêng liêng bí mật. Bởi vậy trước khi lên đường, mẹ và các chị căn dặn nhiều lần là leo núi, lên chùa chớ có dại dột phá phách hay ăn nói vô lể, nếu không sẽ bị mãng xà vương hay chuá sơn lâm trừng phạt. Bởi mang ấn tượng đó, cho nên trên đường xuyên rừng leo núi, cả bọn lúc nào cũng nơm nớp lo sợ, dù đang đi giữa đàn người đông đảo, cười nói như xé nát núi rừng.
Rồi những mùa hạ mùa đông chợt tới, hằng năm học sinh các lớp thi nhau làm giai phẩm, báo tường, báo Tết. Có lúc cả bọn trai gái kéo nhau đi trong mưa trên đường từ trường về tới nhà của trưởng ban văn nghệ, để hội họp viết bài. Mưa chiều thật lạnh, nhưng được đi bên nhau cũng cảm thấy ấm lòng.
Mùa thi cử lại tới. Bắt đầu niên khóa 1959, Phan Thiết đã có hội đồng thi Trung Học Đệ Nhất Cấp. Dạo đó mùa thi cử đã khiến cho đêm Phan Thiết trở nên hoạt động rộn ràng. Do tình hình an ninh tại điạ phương thật khả quan, nên hầu hết nam sinh đều túa ra đường để học thi. Phường phố Phan thiết sau 10 giờ đêm đã bắt đầu thưa vắng. Những hàng vông gốc bàng trong vườn hoa lớn và tất cả hàng cây phượng vỹ dọc theo đường Nguyễn Hoàng, Hải Thượng, Đề Thám.. cũng bất động trầm ngâm. Dòng sông Mường Mán từ trên cầu giữa nhìn lên, nhìn xuống chỉ còn là một vệt đen im lìm xuôi chảy, thỉnh thoảng mới có một vài bóng đèn leo lét trên các thuyền chài từ bến ra khơi, làm khuấy mặt nước đang ngái ngủ giữa đêm trường.
Mùa thi, ban đêm là thế giới riêng của bọn học trò. Thật vậy hầu hết các nơi chốn công cộng như Đài Chiến Sĩ, các vườn hoa kế nhà ga xe lửa, vườn hoa lớn nhưng đông đảo nhất vẫn là vườn hoa Độc Lập trước nhà sách Vui Vui, các hàng ghế đá hầu như đều bị học sinh chiếm lĩnh. Từng lớp, từng nhóm, học hành bàn cãi sôi nỏi về đủ mọi vấn đề. Cảnh Sát, lính Địa Phương Quân và dân chúng đi đêm, nhìn thấy đều mĩm cười với sự bao dung độ lượng và thán phục. Thông thường học bài thi từ nửa đêm cho tới lúc trời bắt đầu hừng sáng, lúc mà những chiếc xe ngựa, xe lam chở hàng từ mấy cửa ô vào chợ, băng qua hai cây cầu gổ bắc ngang sông, gây tiếng lốc cốc lạch cạch của vó ngựa và bánh xe lăn. Nhưng kỷ niệm nhất vẫn là tiếng rao hàng lãnh lót của bà béo bán xôi trước tiệm nước Hòa Nguyên đầu đường Đinh Tiên Hoàng.. hay mùi thơm ngát của bánh mì nóng tỏa ra từ các lò bánh mì, cũng là lúc bọn học trò học thi tan hàng về nhà ngủ.
Suốt thời gian học, năm nào cũng vậy, ngồi trong lớp học hay đi dọc theo con đường Nguyễn Hoàng bất chợt nhìn thấy hoa phượng chúm chím nở hoa, là lòng lại bồi hồi xúc động và vui đến rớm lệ khi giờ cuối cùng đã hết, học trò lớn nhỏ ai cũng nhắp nhỏm chờ lên tàu, để trở về quê có thầy mẹ đợi em trông, trên đường làng huyết phượng nở thành bông và vườn rộng nhiều trái cây ngon ngọt, như Xuân Tâm đã viết trong bài thơ 'nghỉ hè'. Thật tình mà viết trong những lần Hè của tuổi thơ, tôi rất ganh tỵ với bạn bè vì là dân Phan Thiết, nên đâu được lên ghe, lên tàu để về nghỉ Hè tại các làng quê xa xâm êm đềm mãi tận Long Hương, Phan Rí, Mũi Né, LaGi hay ngoài Phú Quý. Nhưng tuổi thơ vốn ồn ào, buồn đó vui đó trong sự mong đợi rộn ràng qua những kỳ nghỉ Hè, nghỉ Tết, lên lớp, thi đổ để bước vào đời:
' kiểm soát kỹ có khi còn thiếu sót,
rương chật rồi khó nhốt cả niềm riêng..'
Đó là tâm trạng buồn rầu qua những buổi học cuối cùng của đám học trò lớn đã đến giờ phải bỏ trường, lớp, thầy cô cả người tình để mà đi. Mùa Hè đã không còn êm ả và huyên náo như buổi nào, khi mà con tàu tuổi thơ của bọn học trò nhỏ có đi và có trở lại cổng trường. Lần này thì khác hẳn, vì những muà Hè vui vẽ đã ngoa ngoắt quay lưng một cách tàn nhẩn, chạy tít tắp mù khơi vào cảnh xanh lơ quá khứ, mặc cho tên học trò mới hôm qua còn thân thuộc, thì nay bỗng thấy mình sao quá lạ xa, đứng giữa sân lòng một mùa Hè tê tái, ngỡ ngàng. Vâng, đó là những ngày Hạ năm 1962, với những nỗi buồn trong buổi học cuối cùng. Rồi mai dấn thân vào đời mù tăm sương khói, định mệnh, chiến chinh, có mấy ai dám hẹn buổi tao phùng"
Tỉnh lẻ đêm cuối cùng thật buồn, một mình trở lại trường cũ, đi trên những con đường xưa để tạ từ lần cuối cùng như thu vén vào hành trang kỷ niệm học trò. Bỗng nghe như từ cõi mù sương nào đó, vọng lại một tiếng thở dài. Thôi quan hà xin cạn chén, từ đây ta là chiếc én lẻ bầy, nẽo đời đã mở ra trước mắt, không mộng mơ như trong trang sách, mà là cả một thành sầu đợi đón khách sông hồ.
1952-2002, trường chẵn 50 tuổi, nếu tính theo đời người đó là con số ngũ thập chi bất hoặc, nhưng đối với ngôi trường Phan Bội Châu lại là một chuổi dài lịch sử. Nhưng dù gì chăng nửa thì lịch sử cũng vẫn là sự thật, đã bị khép lại từ cuối tháng 4-1975. Trong đó có những điều không ai có thể phủ nhận, là qua thời gian tuy ngắn ngũi nhưng trường cũng đã đào tạo nhiều thế hệ học sinh góp phần gìn giữ và xây dựng đất nước. Ngày nay học sinh Phan Bội Châu trên vạn nẻo đường viễn xứ, nhiều người thành danh làm rạng rở Phan Thiết, Bình Thuận. Năm 2002, cả Phan Thiết lẫn Miền Nam California, Hoa Kỳ, đều có tổ chức Ngày Hội Ngộ thân thương, giữa các thầy cô và nhiều thế hệ Phan Bội Châu. Không biết khi chia tay rồi, có ai còn hận thù ai nữa, vì tất cả đều là Phan Thiết, là học trò của thầy này cô nọ, là niên trưởng hay đàn em,lúc đó hình như đã cùng ôm lấy nhau òa khóc trong nỗi sung sướng tao phùng.
Nhưng thôi ước mơ càng thêm xa sót. Tôi đứa học trò cũ năm nào, dù không công thành danh toại, vẫn có quyền tự hào như tất cả bạn bè rằng chúng ta là học sinh trường Trung Học Phan Bội Châu. Sau rốt, xin chân thành cảm ơn ngôi trường đã cho tôi những ngày đáng sống. Xin cám ơn thầy cô đã dạy cho chúng tôi biết nhớ, biết đến tình người và trên hết là biết tin tưởng vào một tương lai dời đổi rất gần. Ngày mai ta lại về.
Xóm Cồn
Tháng 12-7-2005
MƯỜNG GIANG
Subscribe to:
Posts (Atom)



